Hiển thị các bài đăng có nhãn con nguoi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn con nguoi. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

Chu kỳ phát triển của loài người

Các ghi chép lịch sử cho thấy rằng chu kỳ văn minh nhân loại kỳ này của chúng ta mới phát triển được không quá 10.000 năm, từ thời kỳ đồ đá nguyên thủy nhất cho tới xã hội hiện đại phát triển cao như ngày nay. 

Tuy nhiên, dựa trên những di tích khai quật được, một lò phản ứng hạt nhân cỡ lớn 2 tỷ năm tuổi được tìm thấy ở Cộng hòa Gabon, và một khối cầu kim loại 2,8 tỷ năm tuổi được tìm thấy ở Nam Phi, người ta thấy rằng con người với nền văn minh phát triển cao độ đã từng tồn tại trên trái đất này kể từ thời viễn cổ. 

Rõ ràng là, không di tích lịch sử nào trong số đó là thuộc về nền văn minh nhân loại thời kỳ này của chúng ta, và do đó chúng thuộc về các chu kỳ văn minh khác. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giả thuyết về văn hóa tiền sử, trong đó lập luận rằng có hơn một chu kỳ văn minh trên trái đất. Họ cho rằng sự phát triển của văn minh nhân loại là mang tính chu kỳ; các nền văn minh khác nhau đã từng tồn tại trong những thời kỳ lịch sử khác nhau trên trái đất.
Các nền văn minh tiền sử đã bị hủy diệt bởi đủ loại thảm họa, chẳng hạn như động đất, lũ lụt, núi lửa phun trào, va chạm với thiên thạch hay sao chổi, sự nâng lên hay sụt xuống của các bản khối đại lục hay thay đổi thời tiết đột ngột. Những thảm họa này đã hủy diệt nền văn minh trong mỗi thời kỳ và làm tuyệt chủng hầu hết các loài, chỉ để lại rất ít di tích văn hóa. 
Tất cả người tiền sử và nền văn minh của họ đều bị biến mất khỏi trái đất. Bằng cách nào những nền văn minh này bị hủy diệt? Và tại sao? 
Chúng ta có thể tìm một số manh mối từ những di tích tiền sử được khai quật để minh họa cho giả thuyết: có vô số nền văn minh tiền sử đã từng bị hủy diệt.
1.1. Lục địa Atlantis chìm xuống đáy biển 12.000 năm trước

Atlantis là một lục địa có nền văn minh phát triển cao. Khoảng 11.600 năm trước, nó đã chìm xuống đáy biển bởi một thảm họa động đất rung chuyển cả địa cầu. Một số học giả cho rằng nó có thể từng nằm tại vùng biển Đông. Biển ở đó rất nông, với độ sâu trung bình chỉ 60 mét. Chỉ những ngọn núi cao nhất của Atlantis là vẫn còn trên mặt nước, và nó trở thành Indonesia ngày nay.

1.2. Những di tích bị đánh chìm

Ở độ sâu khoảng 200 mét dưới đáy biển gần bờ biển Peru, người ta đã tìm thấy một số cột đá với những dòng chữ được chạm khắc cùng các công trình đồ sộ. Bên ngoài eo biển Gibraltar, trong biển Đại Tây Dương, 8 bức ảnh đã được chụp thành công, trong đó thấy rõ những bức tường và bậc đá của một lâu đài cổ. Chúng đã bị chìm gần 10.000 năm trước. Tại đáy biển phía tây tam giác Béc-mu-đa, một kim tự tháp khổng lồ đã được tìm thấy. Rõ ràng là, những di dích này đại diện cho các nền văn minh huy hoàng của người tiền sử đã bị chìm xuống đáy đại dương, nơi đã từng là lục địa.

1.3. Sự mô tả trận đại hồng thủy

Khoảng 12.000 năm trước, thời kỳ cuối cùng của văn minh nhân loại đã phải chịu một trận đại hồng thủy, và nó đã nhấn chìm tất cả các lục địa. Sau nhiều năm, các nhà khảo cổ đã tìm thấy rất nhiều bằng chứng về trận đại hồng thủy này, trực tiếp hay gián tiếp. Truyền thuyết của nhiều quốc gia cổ xưa khác nhau trên thê giới cũng ghi lại điều này, ở một quá khứ xa xăm, một trận đại hồng thủy đã xảy ra trên trái đất và phá hủy tất cả nền văn minh loài người, với chỉ một số ít người còn sống sót. Có tới hơn 600 truyền thuyết về trận đại hồng thủy. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Hy Lạp, Ai Cập, các thổ dân Châu Phi, Nam Mỹ và Bắc Mỹ, có rất nhiều truyền thuyết khác nhau ghi lại ký ức về trận lụt này. Mặc dù các truyền thuyết này thuộc các tộc người khác nhau và văn hóa khác nhau, chúng đều cực kỳ tương đồng về câu chuyện và các người hùng. Tất cả những chứng cứ này không thể chỉ được giải thích đơn thuần là “sự trùng hợp”.

Có rất nhiều lời mô tả về trận lụt này trong Kinh Thánh. Mặc dù Kinh Thánh là một cuốn sách tôn giáo, nhiều học giả cho rằng nó nói về lịch sử chân thực của loài người. Sau đây là một số đoạn trích từ Kinh Thánh:

“Cơn hồng thủy kéo dài bốn mươi ngày trên mặt đất. Nước tăng thêm và nâng tàu lên, khiến tàu ở cao hơn mặt đất. Nước dâng và tăng thêm nhiều trên mặt đất, và tàu lênh đênh trên mặt nước.” (Sáng Thế Ký, Chương 7, 17-18)

“Và nước vượt qua mặt đất, vượt qua những ngọn đồi cao, và tất cả dưới bầu trời đều bị bao phủ.” “Vào tháng bảy, ngày mười bảy tháng ấy, chiếc thuyền tới đỉnh núi còn lại Ararat. Bốn tháng sau, mặt đất mới khô ráo.” (Sáng Thế Ký, Chương 7-8)

Trận lụt này, cùng với sự chìm xuống của cả lục địa đã hoàn toàn phá hủy tất cả nền văn minh của nhân loại trên trái đất. Chỉ một số rất ít người còn sống sót. Nhiều di tích tiền sử được tìm thấy bởi các nhà khảo cổ mới đây đã nêu lên vấn đề rằng lục địa Atlantis, được ghi chép trong văn hóa Hy Lạp cổ đại, có thể đã từng bị hủy diệt bởi trận đại hồng thủy.

1.4. Đột ngột đóng băng – vẫn còn lại vùng đất bị đóng băng ở Siberia

Ở vùng đất băng giá thuộc Siberia, các nhà khoa học đã tìm thấy hóa thạch của hàng ngàn động vật có vú. Một số rất hoàn hảo, một số bị vỡ thành từng mảnh và bị cuộn vào những thân cây. Các nhà khoa học đã kiểm tra phần thức ăn còn lại trong dạ dày của chúng, và thấy rằng trong đó có cỏ chưa tiêu hóa, thứ cỏ thuộc vùng khí hậu ôn hòa. Một thảm họa kinh khủng đã xảy ra trong một thời gian ngắn và làm đóng băng tất cả sinh vật trong vùng thảo nguyên này tại vị trí hiện tại.

1.5. Thảm họa 65 triệu năm trước đây:

Sáu mươi lăm triệu năm trước, trái đất là một thế giới của khủng long. Các nhà khoa học ước tính rằng khủng long đã từng sống trên trái đất lâu nhất là 140 triệu năm trước, và họ đã tìm được một số bằng chứng cho thấy con người đã từng cùng tồn tại với khủng long. Dưới đáy sông Raluxy ở Texas, người ta đã tìm thấy một số dấu chân khủng long từ kỷ Phấn Trắng. Các nhà khảo cổ đã kinh ngạc khi tìm thấy 12 hóa thạch dấu chân người chỉ cách các dấu chân khủng long kia 18,5 inches. Ngoài ra, một dấu chân người trùng với dấu chân của khủng long. Các nhà khoa học đã cắt mẫu hóa thạch và thấy rằng có một số dấu vết bị đạp lên bên dưới dấu chân, chứng tỏ rằng mẩu hóa thạch này không thể là giả mạo. Và trong phần địa hình gần đó, các nhà khoa học đã tìm thấy một hóa thạch ngón tay người và một chiếu rìu được con người chế tạo.

Tại một cái hang ở Peru, người ta đã tìm thấy hàng ngàn tác phẩm nghệ thuật làm từ đá, có niên đại lên tới 200 triệu năm tuổi. Trong số đó có các bức tranh đáng kinh ngạc: một phi công đang điều khiển một vật thể bay lạ bên trên một bầy khủng long, và một số người đang tấn công con khủng long bằng chiếc rìu!

Rõ ràng là, nhân loại phát triển cao đã từng tồn tại đồng thời với khủng long. Các nhà khoa học đã khám phá ra rằng khủng long đã đột ngột tuyệt chủng từ 65 triệu năm trước, một thực tế vẫn chưa được giải thích. Một lời giải thích khả thi có thể là một thảm họa đã xảy ra vào thời điểm đó, dẫn tới sự hủy diệt nền văn minh loài người cùng hầu hết các loài động vật, bao gồm cả khủng long.

1.6. Thành phố Mohenjodaro bị hủy diệt do sự gia tăng nhiệt độ đột ngột

Địa điểm khảo cổ thuộc thành phố Mohenjodaro đã được tìm thấy ở vùng thung lũng sông Indus, tại nơi mà ngày nay là Pakistan. Sự khai quật được bắt đầu vào năm 1920 và vẫn còn tiếp diễn cho tới ngày nay. Nhưng những phần đã được khai quật hé lộ rằng con người thời đó đã đạt được một nền văn hóa phát triển cao so với văn hóa đô thị hiện đại ngày nay. Nhà cửa được làm từ gạch nung. Và trong mỗi hộ gia đình, có một hệ thống cống rãnh hoàn chỉnh đến mức hoàn hảo. Nước từ nhà vệ sinh ở tầng trên có thể đi theo ống dẫn bên trong tường xuống bể phốt, và có các điểm xử lý tại bể phốt để làm sạch thường xuyên! Ngoài ra, một số hộ thậm chí còn được trang bị thùng rác đặc biệt để họ có thể vứt rác xuống từ trên lầu.

Nhiều xác người đã được tìm thấy tại địa điểm của thành phố. Những người này không được chôn trong mộ mà trông họ giống như đã bị chết đột ngột. Một người khai quật nói: “Rõ ràng là, tất cả họ đã đột nhiên chết do một loại thay đổi đột ngột nào đó”. Một số người đã đưa ra các giả thuyết khác, chẳng hạn như dịch bệnh, vụ tấn công, tự sát tập thể hay tương tự như vậy. Nhưng không thảm họa nào trong số chúng có thể ngay lập tức giết chết tất cả mọi người.

Một nhà khảo cổ học người Ấn Độ đã tìm thấy một số dấu vết trên cơ thể họ, cho thấy rằng họ đã bị nung nóng ở một nhiệt độ rất cao. Các nhà khoa học cho rằng họ có thể là nạn nhân của một vụ phun trào núi lửa, hay thậm chí là một cuộc chiến tranh hạt nhân thời tiền sử. Người ta đã xác nhận rằng phế tích thành phố và cái chết của những cư dân đã bị gây ra bởi một sự gia tăng nhiệt độ đột ngột.

1.7. Địa điểm thuộc Tiahuanaco tại Nam Mỹ

Từ địa điểm khảo cổ thuộc thành phố Tiahuanaco, nằm giữa biên giới Peru và Bolivia, các nhà khoa học đã khai quật được nhiều hóa thạch cá chuồn, sò và các loại động vật biển khác. Họ cũng khám phá ra rằng Tiahuanaco đã từng là một bến cảng với những cầu tàu được thiết kế tốt, một trong số chúng có thể chứa đồng thời hàng trăm chiếc thuyền. Tuy nhiên, bến cảng cổ xưa với lịch sử ước tính 1.700 năm tuổi này đã bị nâng lên thành một cao nguyên ở độ cao 4.000 mét so với mực nước biển! Người ta giả định rằng bến cảng này đã bị hủy diệt và bỏ rơi do một sự xáo trộn mạnh mẽ của các bản khối đại lục.

1.8. Thành phố cổ đại bị nhấn chìm dưới biển Địa Trung Hải

Các nhà khảo cổ người Pháp và Ai Cập đã phát hiện ra một số thành phố cổ đại bị nhấn chìm dưới đáy biển, gần thành phố cảng Alexander ở Ai Cập. Người ta ước tính rằng những thành phố cổ này được xây dựng vào thế kỷ thứ 6 hay 7 trước Công nguyên, trong thời kỳ của các Pharaohs. Tên của chúng thường được đề cập đến trong các vở kịch Hy Lạp, sách hướng dẫn du lịch và chuyện thần thoại. Đây là lần đầu tiên các bằng chứng được tìm thấy để chứng minh sự tồn tại thực sự của chúng.

Khi các nhà khảo cổ lặn xuống đáy biển, họ đã bị sốc bởi những gì họ thấy: những công trình được bảo tồn hoàn hảo, các ngôi đền nguy nga, những bến cảng khá hiện đại và các bức tượng khổng lồ mô tả cuộc sống con người thời đó. Toàn bộ thành phố đã bị đông cứng lại trong quá khứ xa xôi! Quan sát những thành phố dưới đáy biển này, người ta thấy những công dân thành thị dưới thời các Pharaohs có cuộc sống rất tốt. Để hưởng thụ cuộc sống, họ đã xây dựng các tòa nhà rộng lớn và sáng sủa với hệ thống thông gió được thiết kế tỉ mỉ, các nhà vệ sinh và phòng tắm, những công viên giải trí ngoài trời quy mô lớn cùng hệ thống dẫn nước thành thị hoàn hảo.

Những thành phố này đã thình lình bị hủy diệt trong một đêm khi đang ở trên đỉnh cao của sự thịnh vượng vào 1.200 năm trước đây. Tại sao họ lại biến mất đột ngột như vậy?

Các nhà khảo cổ đã đưa ra giả định rằng một trận động đất dữ dội có thể đã phá hủy những thành phố này. Trận động đất có thể xảy ra vào thế kỷ thứ 7 hay 8 sau Công nguyên, bởi vì các đồng xu và của cải được những thợ lặn tìm thấy có niên đại vào thời Byzantine. Các nhà khảo cổ đã cố gắng mô tả cái đêm xảy ra thảm họa 1.200 năm trước: một trận động đất rất mạnh tách thành phố ra thành từng mảng, và một cái vực sâu xuất hiện ở ngay khu trung tâm thành phố. Nước từ vết nứt đó phun lên trời, ngay lập tức nuốt lấy thành phố, nhà cửa và con người. Ngày càng nhiều nước tràn vào thành phố, và mặt đất sụt xuống biển. Không lâu sau đó, cả thành phố đã biến mất dưới đáy biển sâu. Vô số sinh mạng đã bị chôn vùi dưới đáy biển; hầu như không ai có thể thoát khỏi thảm họa. 

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Nhân Tướng Học

Tướng tuỳ tâm sinh - Tướng tuỳ tâm diệt, Tướng tốt - Tướng xấu là ở cái tâm con người !
Phương pháp xem tướng đều thông qua việc quan sát kỹ lưỡng để dự báo cát hung họa phúc, ở đây chỉ xem xét và quan sát các loại hình của tướng thuật. 
Các phương pháp nhận dạng cá nhân qua dấu vết lỗ tai, dấu vân tay, hình dạng của mũi...là một khoa học dựa trên nghiên cứu các bộ phận của con người, thuật xem tướng cũng vậy được đúc kết từ kinh nghiệm quan sát hàng ngàn năm của tiền nhân.
Về đối tượng được nghiên cứu bao gồm 3 loại là hình thể, mạch và vật thể, từ đó phân tướng thuật làm ba loại là hình tướng, mạch tướng và vật tướng.
1. Hình tướng
Người ta thường nói tướng thuật, kỳ thực là chỉ hình tướng. Hình tướng là qua việc quan sát các bộ vị của thân thể và sự biến hóa tương quan giữa chúng để dự báo cát hung. Đó là nội dung chủ yếu của tướng thuật mà chúng ta thường nói tới. Tướng thuật cho rằng “mệnh người do thiên bẩm và biểu lộ ra ở hình thể”. “Tính mệnh lộ ra ở hình cốt, cát hung thể hiện ở khí mạo”, “phàm giữa mệnh và tướng giống như âm thanh và tiếng vang. Âm thanh từ mình phát ra, tiếng vang liền ứng theo, tuy mọi người thọ yểu khác nhau, hiền ngu không giống nhau, nhưng quy luật chung là có thể biết được”. “Bởi vì thân thể không lúc nào không biểu lộ ra những dấu hiệu của sinh mệnh”, “cho nên các thánh hiền thời xưa thường xem hình mạo để biết tính chất, biết tính chất thì hiểu rõ cái tâm, hiểu rõ cái tâm thì biết cái đạo. Quan sát hình mạo sẽ thấy cát hung rõ ràng. Vả lại Phục Hi có nhật giác, Hoàng Đế có long nhan (mắt rồng) Thuấn có hai con ngươi, Văn Vương có bốn vú, đều là tướng của người xưa, thể hiện ra như vậy, là thánh nhân vậy. Còn tất cả mọi người hiền ngu khác, cũng đều thể hiện ra ở mọi dấu hiệu nhỏ bé ở bàn tay, ngón tay, không ai ra khỏi quy luật chung đó. Vì vậy, thuật xem tướng hình thần bắt đầu được xây dựng nên”. (“Thái thành thần giám” – Tự). Rõ ràng, thông qua hình thể để phân biệt thiện ác cát hung là phương pháp và nội dung cơ bản của hình tướng. Sự quan sát hình thể nhằm mục đích vạch ra thiện ác và tính tình, sự thiện ác của tính tình là cơ sở của cát hung. 
Nếu hình tướng lấy nhân thể làm đối tượng quan sát, thì mọi bộ vị của thân thể có thể là dấu hiệu biểu lộ ra, như xương khớp, da thịt, lông mày, râu ria, lông tóc, trán má, mắt, mũi, miệng, môi, răng, lưỡi, tai, cổ vai nách, lưng, vú, bụng, eo lưng, rốn, hậu môn, tứ chi, tay, chân, bàn tay, ngón tay, móng tay, móng chân, khí quan sinh dục, tinh thần khí sắc, bởi lẽ cử chỉ cho tới việc đại tiểu tiện đều là những cái bao hàm xâu xa liên quan tới số mệnh khác nhau và trở thành đối tượng quan sát. Thoạt nhìn qua hình thái người ta khác nhau, nhiều biểu hiện rối rắm phức tạp, nhưng trên thực tế đều có dấu hiệu để nắm bắt, đều có ý nghĩa. Chỉ cần nắm vững quy tắc vận động của hình thái có thể hiểu rõ được điều đó, có thể vạch ra những thông tin về số mệnh làm chứa trong đó. Trong con mắt nhà tướng thuật, sự huyền bí của tướng thuật chỉ là do dân chúng nói chung không hiểu được các “mật mã” chỉ thị số mệnh mà thôi. Trình độ cao thấp của các nhà tướng thuật biểu hiện ở sự thông hiểu các “mật mã” đó và trình độ thao tác của họ. 
Ban đầu, sự quan sát và bình luận của các tướng thuật gia đối với các bộ vị của hình thể tương đối thô sơ và giản đơn. Cuốn “Tướng pháp thập lục thiên” thác danh Hứa Phụ chỉ căn cứ vào 14 bộ vị cụ thể của thân thể người và 2 mặt hành vi, tiếng nói để bình phán về số mệnh con người, vả lại mỗi điều lại riêng rẽ, không liên quan bổ trợ cho nhau. Ngoài ra, các thầy tướng mỗi người lại chỉ chú trọng đến những bộ vị khác nhau, như vậy tất nhiên sẽ dẫn tới kết quả là do biểu trưng ở các bộ vị của mỗi con người khác nhau nên sẽ suy ra những kết luận về số phận khác nhau nên sẽ suy ra những kết luận về số phận khác nhau, và không thể nào phản ánh được những sai khác nhỏ bé trong số phận giữa người này với người khác và sự chìm nổi, biến hóa trong số phận của một con người nên không thể kết luận cho tròn trĩnh được. Thế là, hình tướng rất nhanh chóng phát triển theo ba hướng. (1) Sự đi sâu, chia nhỏ trong cơ cấu các bộ vị của cơ thể. Sau này, hình tướng không giản đơn lấy sự khác biệt đại khái của một bộ vị nào đó để làm căn cứ phán đoán số mệnh nữa, mà tiến hành quy nạp, phân loại, coi chúng nằm trong hệ thống lớn và hệ thống nhỏ có tầng thứ rất chi tiết, nội dung rất phong phú. Như về mặt chia ra làm 13 bộ vị, thuộc về một hệ thống lớn. Riêng về tai đã chia ra hơn 20 loại có quan hệ đến số mệnh, thuộc một hệ thống nhỏ. Sự phối hợp liên hệ giữa hệ thống lớn và hệ thống nhỏ đã giải quyết được những sai biệt nhỏ về số mệnh giữa người này với người khác. Sự bình phán về số mệnh đã từ chỗ giản đơn phán đoán về thọ yểu, sang hèn phát triển thành sự dự báo về hoạn lộ, nắm được thăng tiến, tật bệnh, sinh đẻ, gia đình, họa phúc, ăn uống, đi xa, v.v…, hầu như trình bày hết mọi nội dung sinh hoạt của một đời người. (2) Sự chỉnh thể hóa các bộ vị của hình thể. Lúc ban đầu, tướng thuật không xem cả toàn thân để dự đoán số mệnh. Có người thiên về xem tướng mặt, có người thiên về xem cốt tướng …. người nào theo thuyết của người đó, thành nhiều chi phái. Sau này phát triển lên, tướng thuật ngày càng chặt chẽ, đại đa số thầy tướng không còn xem xét cô lập một bộ vị để dự đoán số mệnh nữa mà coi mọi bộ vị trong hình thể là một thể thống nhất hữu cơ, mỗi bộ vị có tác động chủ yếu hoặc thứ yếu đến số mệnh và chi phối những mặt khác nhau của số mệnh. Việc xem hình tướng cũng theo thứ tự nhất định, tức là trước hết xem xương khớp, sau đến tam đình rồi đến mặt và khí sắc …. gọi là “thập quan pháp”. Sau cùng tổng hợp mọi biểu trưng bên ngoài rồi dự đoán số mệnh. Như vậy, giải quyết được vấn đề những hình tướng khác nhau, sẽ có số mệnh khác nhau. (3) Động thái hóa sự giải thích số mệnh. Hình tướng của con người là một đặc trưng sinh lý suốt đời biến đổi rất ít. Lấy đó mà bàn mệnh vận, tất nhiên sẽ dẫn tới tình trạng “cứng đờ”, chỉ thấy mệnh mà không thấy vận, mà trên thực tế thì mệnh vận con người không ngừng biến hóa. Vì vậy, tướng thuật lại đề xuất ra thuyết về khí sắc, tức là căn cứ vào màu sắc đỏ, vàng, xanh, đen, tía, trắng biểu hiện ở các bộ vị khác nhau trên mặt để suy đoán họa phúc cát hung trước mắt và lâu dài về sau. Đồng thời lại xây dựng nên thuật số “lưu niên vận khí” và phối hợp cái đó với mệnh tướng của các bộ vị trên hình thể. Đặc trưng bộ vị quyết định số mệnh chung, còn khí sắc quyết định sự biến hóa cụ thể của cát hung họa phúc trong một phạm vi thời gian không gian. Do đó mà tạo nên thuyết vận mệnh vừa tương đối ổn định, vừa biến hóa vô cùng. Như vậy là, cuối cùng họ đã cho xây dựng được một học thuyết trọn vẹn, không còn kẽ hở, giải quyết được toàn bộ khó khăn của tướng thuật. 
Do hình tướng là chủ thể của tướng thuật nên mọi người thường coi hình tướng là toàn bộ tướng thuật. Để tiện theo dõi, những phần viết tiếp theo vẫn coi hình tướng là nội dung chủ yếu của tướng thuật để phân tích và đánh giá.
2. Mạch tướng
Mạch tướng cũng còn gọi là Thái Tố mạch là một loại phương thuật thông qua sự biến hóa về mạch trong cơ thể người để dự báo cát hung họa phúc. Vì thông qua phương pháp chuẩn mạch của Trung Y để đạt tới mục đích đó nên nó coi là một loại tướng thuật đặc biệt. Về nguồn gốc của mạch Thái Tố, hiện nay vẫn còn nhiều thuyết khác nhau, nhưng thuyết được nhiều người nhất trí nhất thì cho rằng Trương Thái Tố, người ở Thanh Sơn thời Minh được một vị ẩn giả bí mật truyền cho, rồi ông thực nghiệm nhiều lần, chỉnh lý lại và lưu truyền ra. Thái Tố có viết cuốn “Thái Tố mạch bí quyết” gồm hai cuốn thượng và hạ. Phương pháp mạch Thái Tố mà ngày nay ta được biết là nhờ ở cuốn sách đó. Trương Thái Tố cho rằng, sự thay đổi về mạch đạp của con người là cùng một nguyên lý với ngũ hành bát quái, Hà đồ Lạc thư. Chỉ cần nắm vững bí quyết của mạch Thái Tố thì không những có thể chuẩn bệnh cho người ta mà còn có thể dự đoán mệnh vận. Tương truyền, Thái Tố mạch pháp linh nghiệm dị thường, không những có thể dự đoán mọi điềm cát hung, suốt cả đời người, mà còn có thể căn cứ vào mạch tướng của cha để dự đoán tiền đồ vận mệnh của con nữa. 
Căn cứ vào nguyên lý chuẩn mạch của Trung Y, mạch quyết Thái Tố quy nạp sự biến hóa của mạch tướng con người thành “ngũ dương mạch”, “ngũ âm mạch”, “tứ doanh mạch”. 
Gọi là “ngũ dương mạch” tức là năm loại mạch tướng: phù, hoạt, thực, huyền, hồng, Thái Tố mạch quyết nói:  
“ Phù là mạch nhẹ và ở bên trên, ẩn hiện hoãn tán, như nước làm nổi vật lên, ấn mạnh xuống thì không thấy, để nhẹ tay thì thấy rõ, càng nhẹ càng thấy mạch, rõ rành ở đầu ngón tay. Nếu tam bộ đều phù, thì tâm khí bất túc. 
Hoạt, là mạch không có đầu nối như chuỗi hạt liên tục, ấn mạnh tay thì càng mạnh, thấy rõ ở đầu ngón tay. Để nguyên tay thì thấy mạnh hơn mạch hồng. Nếu tam bộ đều hoạt thì can khí bất túc. 
Thực, là mạch ngược với hư. Nguồn mạch lâu dài không dứt, đặt nhẹ tay thì mạch rõ, ấn mạnh tay thì thấp thoáng như mạch huyền, nhỏ hơn mạch hồng. Nếu tam bộ đều thực thì là tì khí không đủ. 
Mạch huyền là ấn tay xuống thấy căng như dây đàn, ấn mạnh thì đập vừa phải, ấn nhẹ thì càng gấp, mạch tụ mà không tán, để lâu vẫn không thay đổi. Nếu tam bộ đều huyền, thì phế khí không đủ. 
Hồng, là mạch lớn, có nguồn sâu, dòng dài, ấn tay xuống tìm mạch, thấy không huyền không phù, ấn nhẹ ấn nặng đều như vậy. Nếu lại tìm nữa thì bỗng thấy mạnh. Nếu tam bộ đều hồng là khí bất túc”.  
Năm hiện tượng phù, hoạt, thực, huyền, hồng là dấu hiệu của “Ngũ dương mạch”. Chủ yếu khác nhau về mức độ nặng nhẹ, sâu nông. Như mạch phù là “nhẹ thì có nhiều, nặng thì có ít”, mạch hồng là “không huyền không phù, nặng nhẹ đều có” …. 
Gọi là “ngũ âm mạch” tức là bốn loại mạch: vi, trầm, hoãn, sắc. 
Thái Tố mạch quyết nói: 
“Mạch vi là mạch rất nhỏ và yếu, ấn mạnh tay để tìm thì thấy như sợi tóc, thấp thoáng ẩn hiện, như trạng thái nửa có nửa không. Nếu tam bộ đều vi, thì là huyết trệ và thần bất túc. 
Mạch trầm, như hòn đá ném xuống nước chìm xuống tận đáy, ấn mạnh tay để tìm thì phảng phất thấy. So với mạch vi, thấy mạch này hiện chậm trên xương. Nếu tam bộ đều trầm, thì là vị (dạ dày) nghịch và khí bất túc. 
Mạch hoãn, như sợi tơ trong máy không cuốn vào trục, ấn ngón tay thì thấy hoãn, xê dịch thì thấy vi, nhưng lại không gấp bằng vi, không trầm không phục đó là hoãn. Nếu tam bộ đều hoãn thì là thận yếu và tinh không đủ. 
Mạch sắc, là trệ mà không hoạt, dưới ngón tay như có cát chìm, như dao vót tre, trầm mà thô, ấn nặng thấy động vào ngón tay, ấn nhẹ thì như không có; trước thực sau hư lặp lại không ngừng. Nếu tam bộ đều sắc thì hồn không đủ.” 
So sánh với năm dấu hiệu của “ngũ dương mạch” thì “ngũ âm mạch” tỏ ra yếu ớt nhỏ nhoi, mặt khác “ngũ dương mạch” lấy huyết khí của các bộ vị khí quan làm đối tượng chuẩn đoán, còn “ngũ âm mạch” lại lấy tinh thần hồn phách của toàn thể con người làm mục đích kiểm tra. Do đó thấy rằng “ngũ âm mạch” nhỏ yếu khó tìm, song lại rất quan trọng, nếu tinh thần hồn phách của một con người trầm trệ bất túc, thì hình thể cũng sẽ khô xác. 
Gọi là “tứ doanh mạch”. 
Thái Tố mạch quyết nói: Tứ doanh là nhẹ nặng và đục, là âm. Phàm muốn biết sự sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu của con người thì phải tìm trong tứ doanh mạch. 
“Người có mạch khinh (nhẹ) thấy như ngón tay sờ vào ngọc, thuần túy ôn nhuận, là người có trí thức minh mẫn, lộc vị quyền quý. 
Người có mạch thanh (trong), thấy phẳng lặng trong và nổi, như lông vũ nhẹ, không trầm không lắng, luôn thấy đập nhẹ. 
Người có mạch trọng (nặng) thấy hoãn và thô, lấy tay ấn xuống thấy mạch đục, mạch đục thì khí cũng đục. 
Người có mạch trọc (đục) thấy đục, trầm mà căng lại ẩn có trọng trọc, cũng cần xem xét bản nguyên của nó”. 
“Tứ doanh mạch” xem ra có tính tổng hợp, tổng quát. Sau khi hiểu sâu hai loại mạch “ngũ dương”, “ngũ âm”, còn cần phải đánh giá nghiên cứu tình hình nhẹ nặng trong đục của nó, sau đó mới có thể tổng hợp dự đoán trạng thái vận động của sinh mạng và từ đó suy ra xu hướng sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu của mệnh vận. Do đó, “tứ doanh mạch” là hết sức quan trọng. 
Mạch Thái Tố lấy “ngũ dương mạch”, “ngũ âm mạch” làm cơ sở, lấy “tứ doanh mạch” làm hệ quan chiếu đánh giá, rồi lại tham hợp mạch tướng nam nữ và tiêu chuẩn giá trị của tướng lý, là có thể chỉ ra tiền đề mệnh vận của một cá nhân. “Thái Tố mạch bí quyết nói rằng: “Mạch Thái Tố, lấy việc nhẹ trong hay nặng đục để bàn về mệnh. Nhẹ trong là dương là giàu sang, nặng đục là âm, là nghèo hèn. Đàn ông lấy bộ can mộc làm chủ, quyết định công danh cao thấp, đàn bà lấy vị phế kim đoài làm chủ, quyết định việc phúc đức. Còn như nhẹ trong, như ngón tay sờ ngọc, thấy thuần túy ôn nhuận, đập vào đầu ngón tay rõ ràng, lục mạch (sáu mạch) không khác nhau. Như dòng chảy liên tục không đứt đoạn, dù có tật nhỏ, vẫn trong không đục, chủ về người có bản tính xung hòa, trí thức minh mẫn, lộc vị cao, đó là mạch trong nhẹ. Mạch nặng đục thì đập vào ngón tay không rõ ràng, như vung cát khô khắp đầu ngón tay, trước lớn sau nhỏ, số lần ngưng nghỉ hỗn tạp, khắc với bản thân, đó là mạch nặng đục, ấn ngón tay xem xét kỹ, không lần nào sai”. Đoạn văn trên nói rõ thực chất của tướng pháp theo mạch Thái Tố.ớng pháp mạch Thái Tố chủ yếu lấy bốn loại mạch nhẹ trong nặng đục làm phép tắc cơ bản để bàn về tướng người. Người có mạch tướng nhẹ trong là sang người có mạch tướng nặng đục là hèn. Nam giới chủ yếu cần nắm can mạch, theo đó để phán đoán công danh phú quý « nếu tam bộ đều hoạt, là can khí bất túc » đó là điều kỵ với mạch tướng đàn ông. Nữ giới chủ yếu cần nắm phế mạch, do đó có thể phán đoán phúc phận. « Nếu tam bộ đều huyền là phế khí không đủ », đó là điều kỵ với mạch tướng của đàn bà. 
Mạch Thái Tố dung hợp cả mạch lý của Trung Y và các yếu tố văn hóa âm dương ngũ hành, Hà đồ, Lạc Thư, rồi dùng tiêu chuẩn giá trị của tướng lý để đối chiếu, phát huy tỏ rõ đặc trưng hòa trộn vào nhiều thành phần văn hóa. Vì loại tướng thuật này lấy tên chính là chuẩn mạch của Trung Y nên càng dễ thu hút mọi người, khiến mọi người tin tưởng, đã từng lưu hành rộng rãi trong thời Minh và nổi danh là không sai bao giờ.
3. Vật Tướng
Trong lịch sử tướng học có một loại xem tướng dựa vào việc quan sát những đồ vật có liên quan đến con người để dự đoán cát hung quý tiện của người đó. Môn đó gọi là Vật Tướng. 
Tướng thuật giống như một cây có nhiều cành lá, sinh ra nhiều môn phái khác nhau, nên nhiều người nghiên cứu tướng thuật cho rằng nếu như hình mạo đã có thể tỏ rõ quý tiện cát hung thì những vật phẩm gần gũi với con người cũng có thể tỏ rõ thị hiếu, tính tình của con người và đương nhiên cũng có thể căn cứ vào những vật đó để dự đoán cát hung. 
Ngoài việc liên tưởng từ hình mạo, sự ra đời của môn vật tướng còn có liên hệ mật thiết với tục « vật chiêm » của người thời cổ. « Vật chiêm » là thông qua cảnh vật tự nhiên để dự đoán cát hung. Tục này đã được ứng dụng rộng rãi trong dân gian trong mọi thời kỳ lịch sử ở Trung Quốc. Vào thời Hán đã có thuật xem tướng gió, căn cứ vào hướng gió, sức gió và thời gian gió thổi để đoán cát hung. « Thái Bình ngự lãm » quyển 9 đã trích ghi bài « Tướng phong phú » của Trịnh Huyền và bài « Tướng phong phú » của Trương Hoa, tức là coi gió cũng có điềm lành và điềm gở. « Thái Bình ngự lãm » quyển 872, mục điềm lành có nói : « Phù Thụy đồ » nói : Tướng phong là gió tốt, còn gọi là cảnh phong. Mùa Xuân thì phát sinh, mùa Hạ thì mạnh đủ (tưởng doanh), mùa Thu thì Thu tàng, mùa Đông thì an ninh ». Phần điềm gở dẫn Sử ký : « Cuối đời Ân Trụ, gió lớn thổi xiên bò ngựa, làm đổ nhà bật cây, tràn lan mấy chục dặm. Chu bèn diệt Ân ». Theo nhìn nhận của người xưa thì gió, núi sông... mọi vật tự nhiên đều hàm chứa điềm lành điềm gở, chỉ có điều chưa được người ta hiểu mà thôi. Con người với tư cách là vạn vật chi linh, sống trong thế giới vật chất này, đem những điềm lành, gở của các sự vật, hiện tượng liên quan đến con người gán vào cho con người, đó là thành quả tư tưởng của các Vật tướng gia. 
Vật tướng còn phân loại các vật phẩm khác nhau để xem tướng như xem tướng Ấn, xem tướng Chữ, xem tướng Tên, xem tướng Hốt... 
Phép xem tướng Ấn là phương pháp căn cứ vào quả ấn và những chữ triện khắc trên ấn chương để đoán cát hung họa phúc. Người đầu tiên đề ra phép xem tướng này, hiện nay chưa có kết luận nhất trí. « Thái Bình ngự lãm » quyển 683 dẫn « Tướng ấn thư » : « Phép xem tướng Ấn, vốn do Trần Trường Văn đề ra... đoán cát hung đúng tới 8, 9 phần. Trọng Tướng hỏi Trường Văn học phép này ở ai, Trường Văn trả lời : « gốc từ thời Hán », lại dẫn « Tướng Ấn kinh » : « Ấn có 8 góc hoặc 12 góc. Ấn cần phải vuông vắn, trên ổn dưới phẳng, sáng láng sạch sẽ, như vậy thì đều lành ». Về những trước thuật về phép xem tướng ấn, ngoài hai cuốn « Tướng ấn thư » và Tướng ấn kinh » mà « Thái Bình ngự lãm » dẫn ra, « Tùy thư – Kinh Tịch chí » có ghi chép : « Tướng bản ấn pháp chỉ lược sao của Vĩ Thị và « Trình Thâu Bá tướng ấn pháp » mỗi cuốn gồm một quyển, nhưng đều đã thất lạc. 
Phép xem tướng Chữ, còn gọi là « chiết tự », trắc tự ». Phương pháp này chia chữ ra các bộ phận rồi ghép vào chuyện nhân sự để đoán cát hung. Sách « Hữu Đài tiên quán bút ký » thời Thanh viết : « Thuật chiết tự, xưa gọi là xem tướng chữ, thời Tống có Tạ Thạch (xem Hà Cư « Xuân chư kỷ văn », thời Minh có Trương Thừa Tra (xem « Lưu Tích phi tuyết lục »). Phương pháp xem tướng là tùy ý nêu ra một chữ, rồi suy diễn sự liên quan mà đoán cát hung. Bí quyết của phép xem tướng chữ có lẽ là ở chỗ suy diễn sự liên quan mà đoán cát hung. Với thầy tướng đoán chữ, đó là việc sau khi phân tích chữ, suy đoán ra sự cát hung của khách xem tướng. Những thầy tướng giỏi xem tướng chữ có nhiều, trong đó, nổi tiếng hơn cả là Tạ Thạch, Chu Sinh đời Tống, Trương Thừa Tra thời Minh, Phạm Hành thời Thanh.  
« Tạ Thạch (Nhuận Phu) là người Thành Đô. Khoảng năm Tuyên Hòa, đến kinh sư, dùng phép xem tướng chữ để nói họa phúc của người. Người cần xem tướng chỉ cần tùy ý viết ra một chữ, ông sẽ phân tích chữ đó để nói, không lần nào là không nói đúng một cách kỳ lạ. Danh tiếng động đến Cửu trùng (nhà vua), Thượng hoàng liền viết một chữ « Triều », sai Trung Quý nhân đem tới cho Tạ Thạch xem. Tạ Thạch nhìn chữ, rồi ngắm Trung Quý nhân và nói : « đây không phải là chữ của nương nương, song cái nghề mọn của Tạ Thạch này, căn cứ vào chữ mà nói thì hôm nay chịu ơn tao ngộ là ở chữ này. Chữ « Triều », phân tích ra là 4 chữ thập nguyệt thập nhật (mùng 10 tháng 10), nếu không phải là bậc người trời sinh vào ngày tháng này (tức Thượng Hoàng Tống Triết Tông) thì còn ai viết vào đây nữa ? ». Mọi người có mặt cả kinh, Trung Quý nhân trở về tâu lên. Ngày hôm sau, Tạ Thạch được triệu vào hậu uyển, vua lệnh cho tả hữu và cung phi viết chữ đưa cho Tạ Thạch xem, ông nói đều rất chính xác. Hoàng đế ban thưởng rất hậu và phong làm Thừa Tín lang. Từ đó, bốn phương tìm đến xem tướng, ngoài cửa lúc nào cũng đông như chợ ». 
Lại căn cứ vào sách « Lưu Tích phi tuyết lục » nói : Gần đây, những người chiết tự để đoán cát hung, không ai bằng Trương Thừa Tra, ông căn cứ vào chữ, vẽ thành quẻ rồi nói chứ không cần làm gì khác. Đầu niên hiệu Hồng Vũ, có hai ông tham tri chính sự là Lưu công và Vương công đến Triết Giang, đổi Củng Bắc Lâu thành Lai Viễn, rồi yết bảng lên. Thừa Tra đến xem rồi nói : « Nội ba ngày sẽ có việc tang ». Quả nhiên, ba ngày sau, mẹ của Vương công ốm chết. Vương công hỏi nguyên do, Thừa Tra nói : Chữ « lai » có hình chữ « tang », chữ « viễn » có hình chữ « ai », hai dấu chấm bên cạnh là « lệ điểm » (dấu nước mắt) vậy ! Vương công nhờ Thừa Tra đổi chữ khác, liền đổi thành Trấn Hải Lâu. 
Tóm lại, xét về tính chất, loại vật tướng này mang nhiều tính chất bói toán, so với tướng thuật chân chính (tức hình tướng), có khoảng cách rất xa.
Mười Bước Xem Tướng trong "Thần tướng toàn biên"

Coi tướng đàn ông hay đàn bà đều phải có trình tự. Sách "Thần tướng toàn biên" gọi là Thập quan (mười bước xem) và biết như sau: (Chú ý mục này nói thiên về nam tướng nhiều hơn) 

1 - Coi vẻ uy nghi như hổ hạ sơn - bách thú sợ hãi, như chim ưng bay trên trời - cáo thỏ đều kinh. Không dữ tợn mà có uy. Uy nghi là nhờ đôi mắt, lưỡng quyền và thần khí. 

2 - Coi dáng và tinh thần, thân như chiếc thuyền chở vạn hộc thóc, cưỡi sóng to tuy bập bềnh mà không lay chuyển. Lúc ngồi, lúc nằm, lức đứng, lúc đi, thần khí linh hoạt, thanh khiết. Ngồi lâu không mê muội, càng ngồi lâu tinh thần càng sảng khoái như mặt trời mọc ở phương Đông ánh sáng chan hoà vào mắt người, như vầng trăng thu vằng vặc. Diệu thần, nhãn thần như mặt trời mặt trăng sáng lạn, tự nhiên khả ái. Nhìn lâu không mờ. Có những tướng trên không đại quý cũng tiểu quý, chẳng giàu tỷ phú thì cũng bậc triệu phú! 

3 - Coi đầu tròn, đỉnh dầu trán cao vì đầu là chủ toàn thân, nguồn gốc của tứ chi. Đầu vuông, đỉnh đầu cao là người ở ngôi vị cao tới bậc vua chúa. Trán vuông, đỉnh đầu cao khởi là phụ tá lương thần. Đầu tròn thì giàu có và thọ. Trán rộng thì sang quý. Đầu lệch từ nhỏ truân chuyên. Trán vát thiếu niên hư hao. Trán thấp thì hình khắc và bướng bỉnh. 

4 - Thẩm định sự thanh trọc: Thanh hay trọc phải đúng mức, vì Thanh đi quá đà sẽ trở thành hàn. Trọc đi quá đà sẽ trở thành thô và chỉ khi nào có hàn và thô mới coi là xấu. Nếu trong một cá nhân có cả Thanh lẫn Trọc, ta phải tìm xem đó là cách Thanh trung hữu Trọc hay cách Trọc trung hữu Thanh. 

5 - Coi Ngũ nhạc Tam đình

A) NGŨ NHẠC: 
Quyền bên trái là Đông nhạc cần ngay ngắn không thô lộ. Trán là Nam nhạc cần ngay ngắn, không vát, không hãm, không thấp, không thiên tà. Quyền bên phải là Tây nhạc nên đầy đặn, vuông vấnhy tròn trịa, không nên nhọn, lệch, lẹm. Mũi là Trung nhạc nên ngay ngắn, sống mũi trực thượng ấn đường không được vẹo, nhọn, gầy, khúc. 
Sách tướng viết:  
"Ngũ nhạc câu triều quý áp triều ban"  (5 nhạc chầu vàp nhau, chức vị đến bậc tể tướng)  
Chú ý: Lấy mũi làm chuẩn cho sự chầu.  
"Ngũ nhạc thành toàn thì tiền tài tự vượng" 
B) TAM ĐÌNH: 
Gồm có trán, đầu và cằm (xem ở trên) đòi hỏi dài ngắn cân xứng.  
Sách tướng viết:  
"Thượng đình trường thiếu niên mang" (tuổi trẻ vất vả)  
"Trung đình trường phúc lộc sương" (có phúc lộc)  
"Hạ đình trường lão cát tướng" (tuổi già hưởng thụ)  
Nếu tam đình không bình đẳng thì cứ căn cứ ba câu phú đoán trên mà xét. 
6 - Coi Ngũ quan
+ Mi (lông mày) là Bảo thọ quan nên thanh cao sơ tú, cong dài, cách mắt hai phân là tốt. Đuôi mày nên chếch lên phía thái dương gọi là "mi phất thiên sương" (coi ảnh Chu Ân Lai thấy rõ). Người nào có bộ lông mày thô đậm, vàng lợt tán laọn, áp xuống mắt thì thuộc tướng hình hại.  
+ Mắt là Giám sát quan nên đen trắng rõ ràng (phượng nhãn, tương nhãn, long hổ nhãn, hầu nhãn...). Mắt nên có tinh thần ẩn bên trong chớ lộ ra ngoài, trông thấy vẻ tự nhiên thanh tú hoặc tự nhiên có uy lực. Nếu là mắt rắn, mắt ong, mắt heo thường lộ 4 phía lòng trắng (tứ bạch), hoặc có xích mạch (sợi đỏ) đâm ngang con ngươi, trắng đen lẫn lộn, hoặc thần quang quá lộ, hoặc hôn muội là tướng hung, bại ngu tướng.  
+ Tai là Thám thính quan không cứ to nhỏ, chỉ cần luân quách (vành tai ngoài và vành tai trong) phân minh. Tai trắng hơn mặt cực tốt! Thuỷ nhĩ (tai mọng như nước); Thổ nhĩ (tai lớn và dầy); Viên kỳ nhĩ (tai tròn như quân cờ); Điếm não nhĩ (tai áp sát vào đầu, đối diện không thấy); tai cao hơn lông mày, sắc tai hồng nhuận, lỗ tai nhỏ đầu là loại tai tốt tướng. Loại tai chuột mỏng vểnh; tai đuôi tên (nhọn vát); mộc nhĩ (lăn quăn); luân quách phản - đều là tướng xấu!  
+ Mũi là Thẩm biện quan nên đầy nở, thẳng cao. Những loại mũi tốt là: Long hổ tị, tài đồng tị (như ống trúc chẻ), thịnh nang tị (mũi như túi đầy); huyền đởm tị (mũi như trái mật treo). Mũi phải đoan chính không vẹo, không thô, không nhỏ mới hay. Những loại mũi xấu là: mũi chó, mũi chim ưng, mũi nhọn như mũi dao, mũi chia khúc, lỗ mũi lộ, mũi hếch, mũi có sống mũi cao lộ cốt gọi là "cô phong tị". Ai có những mũi xấu kể trên đều là bần, khổ, ác, tham, làm cái gì cũng hỏng.  
+ Miệng là Xuất nạp quan. Miệng tốt tướng là miệng có đôi môi hồng, răng trắng, nhân trung sâu dài, hình dáng như trăng treo hay là vòng cung. Miệng chữ tứ, miệng vuông to như miệng hùm, miệng hình dáng tựa con thuyền bị lật úp, miệng cá ngão, môi ngắn răng lộ, môi đen, môi mỏng miệng thô đều là tướng xấu. Miệng xấu tất bị mười năm khốn khổ! 
7 - Coi lưng, bụng. 
Ngực bằng, đầy, eo tròn, lưng đầy và bụng dưới to hơn, da dẻ mịn màng là tốt. Kỵ lưng thành hố sâu, lưng mỏng, vai so, eo nhỏ (trai thì phải có vai, gái nên vai xuôi, vai nhỏ). Mông cần nở nang, bằng bặn, không nên lớn thô. Bụng nên trễ xuống nghĩa là bụng dưới to. Nếu khoảng trên lớn, khoảng dưới thót là bụng chim sẻ, bụng chó rất xấu.  
Sách tướng viết:  
"Yêu viên bối hậu phương bảo ngọc đới triều y" (Eo tròn, lưng dầy thì ăn lộc của triều đình)  
"Sậu nhiên bất dị khảng khái quá nhân tất chủ phát đạt phú quý" (Tính tình khẳng khái, cương nghị hơn người tất sẽ phát đạt phú quý)  
Riêng về tướng đàn ông, nên để ý câu sau đây:  
"Đầu đại vô dốc, phúc đại vô nang bất thị nông phu, tất thị đổ bác" (Đầu to mà không có góc cạnh, bụng lớn mà không có ụ nổi, nếu không chân lấm tay bùn thì cũng rạc dài cờ bạc)  
Sách tướng viết:  
Nam tử eo nhỏ khó lòng có tiền, thêm yểu triết, ngực ưỡn đít cong thì chịu trăm ngàn cay đắng. Nữ tử thì phải chịu phận nô tì. 
8 - Coi chân tay. 
Tay phải dài, chân phải có bụng chân chứ đừng có sác như que củi, chớ có nổi gân chằng chịt. Bàn tay nên nhiều đường nét lạ, màu sắc hồng nhuận, da thịt mềm mại. 
9 - Coi tiếng nói và tâm trạng. 
Sách tướng viết: "Tâm bất chính tất nhãn gian tà".  
Muốn nhìn sự việc trong tâm thì coi đôi mắt. Mắt hiền mắt ác biết tâm hiền tâm ác. Mắt nhìn lên thì tâm sự cao thượng, mắt trông xuống thì tâm sự băn khoăn. Mắt chuyển động mà không nói là trong lòng nghi ngờ, lo lắng. Mắt tà thị là loại người "khẩu phật tâm xà", ích kỷ hại nhân. Mắt nhìn thẳng thắn là người trung chính. Mắt ác tâm tất ác, mắt hiền tâm tất từ. Ai dư dả tiền bạc, lòng quảng đại vui sướng đều thấy hiện sắc chôn vàng đỏ ở nơi ngoạ tàm (dưới mắt) và ấn đường. Đàn ông tiếng nói như sấm sét, như chiêng đồng, như tiếng vang trong chum, tiếng dài có âm hưởng thì dù tướng mạo không đẹp lắm cũng có thể phú quý. Người nhỏ tiếng lớn, người lớn tiếng oai vệ, thanh âm xuất tự đan điền đều được hưởng phúc lộc lâu dài. Kẻ bần tiện yểu chiết tiếng nói líu ríu, nhẹ bấc, hoặc tán mạn (không tiếp nối đều đặn) hoặc như thanh la vỡ, trống thủng, tiếng khô khan khó nghe. 

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Nhân vật tiêu biểu đại diện 12 chòm sao

Trong chiêm tinh học hoặc đôi khi là thiên văn học, các cung Hoàng Đạo là một vòng tròn 360o và được phân chia làm 12 nhánh, mỗi nhánh tương ứng với một cung, góc 30o. Cung Hoàng Đạo được tạo ra bởi các nhà chiêm tinh học Babylon cổ đại từ những năm 1645 trước Công nguyên. 
Vòng tròn 12 Cung Hoàng Đạo hoàn hảo với 12 cung tương xứng với bốn Mùa và 12 tháng. Các cung được phân chia làm bốn nhóm yếu tố (Lửa, Nước, Khí, Đất), mỗi nhóm yếu tố gồm 3 cung đại diện cho các cung có tính cách tương đồng với nhau. 
Theo các nhà thiên văn học thời cổ đại, trong khoảng thời gian chừng 30 - 31 ngày, Mặt Trời sẽ đi qua một trong mười hai chòm sao đặc biệt. Ai sinh ra trong thời gian Mặt Trời đi qua chòm sao nào thì họ sẽ được chòm sao đó chiếu mệnh và tính cách của họ cũng bị chòm sao ảnh hưởng nhiều. 
12 chòm sao tạo thành 12 cung trong vòng tròn Hoàng đạo, có nghĩa "Đường đi của mặt trời". 

Theo phương Tây, vòng tròn này tên là Horoscope. 


Tiếng Hy Lạp là Zodiakus Kyklos (ζωδιακός κύκλος) - "Vòng tròn của các linh vật."


Hiện nay, Hoàng đạo được coi là một xu hướng mới trong giới trẻ vì nó không hề mê tín mà khá đúng với thực tại.

Ma Kết (Con dê biển 22/12 - 20/1)
Tào Tháo - là nhà chính trị, quân sự kiệt xuất cuối thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đặt cơ sở cho thế lực quân sự cát cứ ở miền Bắc Trung Quốc, lập nên chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc. Là người thông minh nhanh nhạy, nghĩa hiệp. Tào Tháo hùng tài đại lược, dũng cảm mưu trí hơn người nhưng cũng là người đa nghi, nham hiểm và tàn nhẫn... 
"Thời trị, ông là bề tôi giỏi; Thời loạn, ông là kẻ gian hùng" suốt đời trọng người tài chứ không trọng đức, chỉ cần đạt được mục đích là không từ thủ đoạn.
Thuỷ Bình (Người mang nước 21/1 - 19/2)
Bàng Thống - Được xưng là tiểu phượng hoàng, nổi danh cùng với Gia Cát Lượng. Dung mạo xấu xí, hiến kế cho Tào Tháo, trở thành thắng bại then chốt trong trận Xích Bích. 
Tư Mã Huy nhận xét về Bàng Thống như sau: "Nếu được một trong hai người Ngọa Long (tức Khổng Minh) hoặc Phụng Sồ (tức Bàng Thống) thì có thể định hưng được thiên hạ".
Song Ngư (Hai con cá bơi ngược chiều 20/2 - 20/3)
Lưu Bị - Lưu Bị đã cùng Quan Vũ, Trương Phi kết nghĩa anh em cùng nhau đánh giặc. Lưu Bị lung lạc bốn bể, theo phò nhiều người như Lã Bố, Viên Thiệu, Tào Tháo, Lưu Biểu... trong một thời gian. 
Lưu Bị là một nhà lãnh đạo có sức hút và rất giỏi thu phục lòng người. Thuở lập nghiệp, ông dù tay trắng nhưng 2 mãnh tướng Quan Vũ, Trương Phi vẫn bất chấp khó khăn mà phụng sự ông tới cùng. Lưu Bị có Gia Cát Lượng làm quân sư, sau đó, có thêm 1 đại quân sư nữa là Bàng Thống.
Bạch Dương (Con cừu đực có bộ lông vàng 21/3 - 20/4)
Trương Phi - là một người rất khẳng khái, bộc trực và rất nóng nảy. 
Ông đã đóng góp rất nhiều cho sự ra đời của nước Thục. Ông nổi tiếng với võ nghệ siêu phàm cùng với sự dũng cảm coi thường cái chết. Ông thật sự là nỗi khiếp đảm của quân thù. Như trận đánh cầu Trường Bản, ông đã quát mấy tiếng khiến Tào Tháo hoảng sợ mà lui quân
Kim Ngưu (Con bò trắng 21/4 - 21/5)
Đổng Trác - Đổng Trác nắm quyền sau khi thu phục vơ vét của dân chúng, đóng ở phu phòng ngự riêng biệt ngoại thành Trường An. 
Đổng Trác cưỡng bức hàng trăm vạn dân Lạc Dương bỏ kinh thành về Tràng An và đốt trụi kinh thành, giấu vàng bạc châu báu trong thiên hạ, nam thanh nữ tú, sống vinh hoa phú quý cùng mỹ nhân Điêu Thuyền, có thể nói là vô cùng hưởng thụ.
Song Tử (Hai cậu bé/cô bé song sinh 22/5 - 21/6)
Dương Tu - học rộng tài cao, có tài trí hơn người, nhưng cũng chính vì trí thông minh mà chuốc hoạ vào thân, nhiều lần khiến Tào Tháo ngậm bồ hòn làm ngọt bằng những xử lý tình huống rất thông minh của mình, nói trúng tim đen của Tào Tháo cho mọi người biết nên lấy cớ là Dương Tu phao tin làm loạn lòng quân, đem ra chém đầu.
Cự Giải (Con cua 22/6 - 22/7)
Tào Thực - Lúc Tào Tháo xây xong Đồng tước đài thì Tào Thực chỉ khoảng 10 tuổi. Vậy mà, khi nghe cha ra lệnh các con làm thi phú để tán tụng, ông làm xong bài phú Đồng tước đài, khiến cha vừa mừng vừa kinh ngạc, và Tào Phi bắt đầu ganh tị với ông từ đó. Có tài văn chương, viết chữ rất đẹp, tài trí nhanh nhẹn, hạ bút thành văn. 
Tào Phi tức hoàng đế, ghen ghét đố kỵ với tài hoa nên muốn giết Tào Thực, nhưng Tào Thực đã "đi bảy bước thành thơ" khiến Tào Phi cảm động, thể hiện tình cảm gia đình của Cự Giải.
Sư Tử (Con sư tử 23/7 - 22/8)
Quan Công (Quan Vũ/ Quan Vân Trường) - Quan Vũ "qua 5 ải chém 6 tướng". 
Trong khi dân gian xem ông như một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa thì các nhà sử học cũng phê phán ông về các tính kiêu căng, ngạo mạn. 
Quan Vũ được đánh giá là người dũng cảm phi thường, đứng đầu toàn quân. Ông trọng điều nghĩa, giữ chữ tín, là bầy tôi trung thành. Dù được Tào Tháo hậu đãi nhưng ông không từ bỏ Lưu Bị; theo Lưu Bị nhiều năm phải trải qua gian lao khó nhọc nhưng ông vẫn một lòng không thay đổi.
Xử Nữ (Cô gái trinh nữ 23/8 - 23/9)
Chu Du - Xuất thân là con nhà quan, vẻ ngoài anh tuấn, thông minh hơn người, đa mưu túc trí. 
Chu Du là người yêu âm nhạc, lễ phép khiêm tốn, nhưng trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, ông bị mô tả như một đứa trẻ ngô nghê và nóng tính, bị Gia Cát Lượng chọc tức 3 lần đến chết. Nhà văn còn viết một câu khá nổi tiếng rằng trước khi chết Chu Du phẫn uất mà than: "Trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng?". 
Xử Nữ tuy đa tài đa nghệ nhưng lòng dạ không rộng lượng.
Thiên Xứng (Cái cân 24/9 - 23/10)
Lữ Bố - Được xưng là "Phi tướng quân", là võ tướng dũng mãnh ưu tú nhất trong tam quốc diễn nghĩa. 
Suốt đời hữu dũng vô mưu, phản phúc vô thường, không qua ải mỹ nhân. Là ưu điểm cũng là khuyết điểm của Thiên Bình.
Thiên Yết (Hổ Cáp - Con bọ cạp 24/10 - 22/11)
Gia Cát Lượng (tự Khổng Minh) - Khổng Minh đã giúp Lưu Bị cùng với Tôn Quyền đánh bại Tào Tháo ở Xích Bích, suốt đời bền bỉ kiên định phò tá cho Lưu Bị, tinh thông Âm Dương Ngũ Hành, liệu việc như thần, giỏi về dùng kế. 
Người đời sau có câu:"Vạn đại quân sư Gia Cát Lượng, thống nhất sơn hà Lưu Bá Ôn.", đế nói lên tài năng muôn đời của ông.
Nhân Mã (Cung thủ, nửa trên là người, nửa dưới là ngựa 23/11 - 21/12)
Hoa Đà - Hoa Đà nổi tiếng là thầy thuốc giỏi đương thời, giỏi châm cứu, có hiệu là "Thần y". 
Được Tào Tháo giữ lại để chữa bệnh, nhưng do cách chữa bệnh quá nghiêm túc và thẳng thắn nên mới bị giết. Ông được xem là một trong những ông tổ của Đông Y.
Vòng tròn Hoàng đạo chia thành 12 cung, phân ra 4 nguyên tố đã tạo ra của thế giới theo quan niệm phương Tây: đất, lửa, nước, khí. 

Cứ ba cung là được xếp vào một nhóm nguyên tố, những cung cùng chung nhóm luôn tương hợp nhau nhất. 


Tuy nhiên, không phải hai cung khác nhóm lúc nào cũng kị nhau. Điển hình là nhóm Đất có thể kết hợp hài hòa cùng nhóm Nước và nhóm Lửa tương đối thích hợp với nhóm Khí.


Nguyên tố đất

Ma Kết, Xử Nữ, Kim Ngưu. 
Những người nhóm đất rất chung thủy, cần cù, ôn hòa và khoan thai.
Nguyên tố lửa
Bạch Dương, Sư Tử, Nhân Mã. 
Tính cách người nhóm lửa đặc biệt nồng cháy, đam mê, nông nổi nhưng gan dạ.
Nguyên tố nước
Song Ngư, Cự Giải, Thiên Yết. 
Người nhóm nước thường nhạy cảm, dễ bị tổn thương, có thiên hướng nghệ thuật.
Nguyên tố khí
Song Tử, Thiên Xứng, Thủy Bình. 
Đặc điểm: Họ yêu tự do, thông minh, tính tình phóng khoáng, tư tưởng cấp tiến.
12 cung tương ứng với 12 ngôi sao và hành tinh, bao gồm cả Diêm Vương Tinh đã bị các nhà khoa học xóa khỏi danh sách các hành tinh hệ mặt trời:

Cung Ma Kết được Thổ Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần thời gian Saturn (Cronos).


Cung Thủy Bình được Thiên Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần bầu trời Uranus.


Cung Song Ngư được Hải Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần biển Neptune (Poseidon). 


Cung Bạch Dương được Hỏa Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần chiến tranh Mars trong thần thoại La Mã (Ares của thần thoại Hi Lạp).


Cung Kim Ngưu được Kim Tinh bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần Venus (Aphrodite của thần thoại Hi Lạp.)


Cung Song Tử được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần đưa tin Mercury (Hermes).


Cung Cự Giải được Mặt Trăng bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần hôn nhân gia đình Junon (Hera trong thần thoại Hi Lạp)


Cung Sư Tử được Mặt Trời bảo hộ, tượng trưng cho thần mặt trời Helios, sự trung trực, uy quyền và sức mạnh.


Cung Xử Nữ được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho trí tuệ, lòng chung thủy nhưng quá cầu toàn nguyên tắc.


Cung Thiên Xứng được Kim Tinh bảo hộ, cung này biểu tượng cho sắc đẹp, sự quyến rũ, công bằng. Tượng trưng cho nữ thần Venus.


Cung Thiên Yết được Diêm Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho Pluto (Hades), thần cai quan âm phủ.


Cung Nhân Mã được Mộc Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần sấm sét Jupiter (Zeus).


Tham khảo thêm 
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/10/12-cung-hoang-dao.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2014/03/than-bao-ho-12-cung-hoang-dao.html 
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/10/nhan-vat-tieu-bieu-dai-dien-12-chom-sao.html