Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Lời nói sau cùng của Bầu Kiên tại tòa

Lời nói sau cùng của Bầu Kiên tại tòa 

Kính thưa HĐXX, tôi rất cảm ơn HĐXX đã dành thời gian cho tôi được nói. Hôm nay, một lần nữa tôi xin HĐXX dành thời gian cho tôi được nói những điều tôi rất muốn nói công khai. Trước khi nói về những điều liên quan vụ án, xin nói đôi lời về hệ quả, hệ lụy liên quan đến vụ án.

(Tòa nhấn mạnh đây là lời sau cùng của bị cáo, nên nói tập trung)

Tôi rất hiểu là tôi được phép nói những gì trong lời nói cuối cùng.

Đầu tiên, xin HĐXX cho phép tôi cảm ơn những người bạn, người thân, cổ động viên đã giúp đỡ động viên gia đình tôi trong 21 tháng qua, tôi ghi nhận và trân trọng sự giúp đỡ của mọi người.

Hơn bao giờ hết, lúc này tôi cần bạn bè người thân giúp đỡ vợ tôi vượt qua những khó khăn này vì một người phụ nữ chưa bao giờ kinh doanh phải đứng trước tình hình “tiền mặt trả ngay”. Tôi khẳng định tôi không bao giờ phá sản. Những khó khăn hôm nay vợ tôi phải đứng ra giải quyết cho tôi là rất lớn nhưng trách nhiệm trước xã hội, tôi tin chúng tôi sẽ vượt qua khó khăn này nhưng tôi cần sự giúp đỡ của người thân, bạn bè trong thời gian này.

Những người trước đây chưa dám giúp tôi vì sợ liên lụy, họ chưa biết rõ bản chất vụ án như thế nào. Tôi tin rằng qua quá trình xét xử, họ đã biết bản chất thực của vụ án này là gì.

Cho phép tôi được xin lỗi các cổ động viên đội bóng đá Hà Nộivì những lý do bất khả kháng, đội bóng đã không được tiếp tục thi đấu. Tôi đã yêu cầu vợ tôi tiếp tục duy trì đội bóng trẻ để một ngày nào đó đội bóng được xây dựng lại bởi vì đây là tâm nguyện của tôi. Trong trường hợp tôi không làm được, con trai cả tôi sẽ làm thay.

Tôi đề nghị các đồng nghiệp của tôi tại công ty VBF sẽ làm tốt những gì chúng tôi đã dự định trước đây, những gì mà tôi, anh Đoàn Nguyên Đức, anh Thắng đã nói chuyện với nhau rất nhiều để làm sao trước khi nhắm mắt xuôi tay một lần nhìn được đội tuyển bóng đá Việt Nam thi đấu tại World cup. Đây là hoài bão lớn nhất trong tất cả các sự nghiệp mà tôi mong muốn.

Xin gửi lời tri ân tới toàn bộ khách hàng tại Ngân hàng Á Châu– những người đồng hành cùng tôi trong 20 năm hoạt động ngân hàng. Khách hàng của ACB hoàn toàn có thể tin tưởng rằng ngân hàng này là ngân hàng quản trị tốt nhất trong các ngân hàng thương mại VN, các hoạt động công khai minh bạch, điều hành có hiệu quả.

(Tòa nhấn mạnh đây là lời nói với HĐXX lời sau cùng)

Xin thẩm phán cho tôi được nói đầy đủ vì không đầy đủ thì sẽ không giúp tôi nói lời trọng tâm. Tôi nói những điều hoàn toàn mới. Đề nghị ông kiên nhẫn và dành thời gian cho tôi.

Trước hết, đối với các cổ đông nhỏ, vì việc tôi bị bắt, một số ngân hàng đã xiết nợ khi giá cổ phiếu xuống. Thiệt hại này có thể làm quý vị tán gia bại sản, tôi lòng thành xin lỗi vì đây là bất khả kháng của tôi, tôi không làm gì khác được. Các cổ đông lớn không có bất kỳ thiệt hại nào vì đây là những nhà đầu tư lâu dài.

Với hơn 15 ngàn CBNV ACB, những người đã rất thành công 20 năm qua. Mong anh chị em tiếp tục làm việc tận tâm. Tôi yêu cầu vợ tôi, con tôi không bao giờ được bán cổ phần của ACB, gia đình tôi tiếp tục cùng các anh chị xây dựng ACB, xây dựng đất nước.

Tôi đã yêu cầu vợ tôi, yêu cầu ban lãnh đạo ACB không được cắt giảm lương, không được đuổi việc họ vì họ là những người tạo dựng thành công của ACB ngày hôm nay. Có thể chúng tôi có sai sót, chúng tôi sẽ gánh chịu nhưng ACB, họ không bao giờ đứng tên kiện tôi hay tố cáo tôi. Tôi có niềm tin mãnh liệt vào hơn 15 ngàn CBNV này không ai kiện tôi tố cáo tôi. Ai đứng sau họ nặc danh kiện tôi trước sau sẽ bị lôi ra ánh sáng. Họ hiểu rằng tôi đã đóng góp gì cho ACB hơn 20 năm qua.

Thành thật mong Vietbank thông cảm khi gia đình tôi buộc phải bán cổ phần của ngân hàng này vì không phải 1 lúc có tiền mặt trả ngay trang trải các khoản nợ. Sẽ có 1 ngày nào đó, 1 lúc nào đó, gia đình tôi sẽ quay lại Vietbank.

Với gia đình tôi, mẹ tôi, các em tôi, vì sao tôi không cho các em tôi kinh doanh, giữ các vị trí quan trọng của ngân hàng vì tôi cho rằng các em tôi chưa đủ năng lực trình độ để giữ vị trí quan trọng. Nhưng hơn ai hết, tôi nhìn thấy các rủi ro trong kinh doanh tại VN nên tôi không muốn các em tôi,vợ tôi phải chịu những rủi ro này.

Tôi muốn nói với các con tôi. Hôm trước tôi đã nói tôi biết tôi sẽ bị bắt nhưng tôi không bỏ chạy, sẵn sàng đứng lại nhận trách nhiệm vì những việc mình làm và tôi đã gọi 2 con trai tôi. 1 cháu lúc đó 15 tuổi, 1 cháu 9 tuổi, cháu thứ 3 bé quá tôi không gọi. Tôi nói với cháu thứ 2 là có thể con chưa hiểu nhưng con nhớ rằng cuộc nói chuyện này của bố với con … (ông Kiện nghẹn ngào xúc động).

Tôi bảo con lấy giấy bút ra ghi lại, tôi nói rằng: có thể có rủi ro sẽ xảy ra, tôi không biết bao giờ rủi ro sẽ xảy ra nhưng con hãy ghi lại những điều bố nói. Thứ nhất để làm người tốt phải làm gì. Thứ hai là mong muốn của tôi về việc con lập nghiệp kinh doanh như thế nào. Thứ 3, con trai là người đàn ông trong gia đình thay tôi chăm sóc vợ tôi và các em tôi.

Tôi không bỏ chạy, tôi không trốn chạy trách nhiệm vì tôi tin vào chế độ này, đất nước này có kỷ cương phép nước dù thời gian đó rất sớm, hộ chiếu của tôi dài hạn ở khắp các nước, tôi có quan hệ khắp nơi, tôi chờ cái gì sẽ đến với mình, tôi chịu trách nhiệm với những gì mình làm.

Tôi xin phép nói với vợ tôi vì tôi chưa bao giờ được nói với vợ tôi từ khi vào tù. Tôi nói với vợ tôi khi tôi đề nghị luật sư là không bao giờ chạy án, không gặp gỡ bất kỳ ai đang giữ các trọng trách trong vụ án ngày hôm nay, xin xỏ bất cứ điều gì cho tôi vì điều đó sẽ nguy hiểm trực tiếp đến các lãnh đạo đồng thời nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng vợ tôi.

Thứ hai, tôi sẽ tự giải quyết những vấn đề liên quan đến vụ án của tôi. Tôi tin rằng mình có đủ khả năng, đủ tư duy, đầu óc để chứng minh mình vô tội.

Việc tôi biết được cơ quan điều tra bắt tôi không phải thông tin như dư luận xã hội được biết mà được phản ánh ngay trong bút lục hồ sơ vụ án vì cơ quan điều tra đã sử dụng anh Lý Xuân Hải để tố cáo tôi, khống chế anh Hải khi anh ấy là người rất thận trọng, anh ấy báo cáo thường trực HĐQT, tổ chức họp với tôi để thông báo điều đó. Tôi đã đề nghị HĐQT cung cấp tất cả những tài liệu liên quan đến tôi khi cơ quan điều tra yêu cầu.

Thứ hai, vì tố cáo tôi nên tôi sẽ không tham gia vào bất kỳ ý kiến nào của thường trực HĐQT. Tôi chỉ đề nghị anh Hải làm văn bản báo cáo lãnh đạo công an về những việc cơ quan điều tra đang làm với anh Hải.

Những việc này, anh Tuấn, anh Kỳ, anh Hải đều chứng kiến. Khi tôi nói chuyện với anh Hải bằng điện thoại, cơ quan điều tra nghe và đều biết tôi ứng xử như thế nào khi tôi biết tôi sẽ bị bắt. Tôi là công dân tôi lương thiện, không ngần ngại điều đó, sẵn sàng chấp nhận thử thách đến với mình một cách dũng cảm.

Tôi rất cảm ơn nhà báo phóng viên đã đưa tin, mong báo chí đưa tin công khai, giúp tôi tìm ra sự thật.

Tôi xin cám ơn Bộ y tế đã giúp tôi sống qua những ngày khó khăn, đã mang thức ăn hàng ngày cho tôi, giúp tôi khám sức khỏe ngày 2 lần, tôi có thể giữ được sức khỏe để ngày hôm nay có mặt tại đây. Tôi không được đối xử công bằng như những bị cáo khác.

Tôi cám ơn các cán bộ chiến sỹ ở trại đã không gây khó khăn cho tôi.

Tôi rất hiểu và rất biết rằng đứng trước HĐXX không phải là nơi tôi khoe khoang kể công nhưng kết luận của cơ quan điều tra và diễn giải của VKS đã xúc phạm đến tôi, buộc lòng tôi phải nói dù không muốn nói:

Khi còn rất trẻ, đầu những năm 90 tôi được lãnh đạo Đảng, nhà nước giao một số nhiệm vụ rất khó khăn vì lúc đó tôi có mối quan hệ tình cờ, đặc biệt với lãnh đạo nhà nước Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ Việt Nam Nga rất khó khăn, vì mối quan hệ của mình, tôi đã làm những việc Đảng, nhà nước giao gồm 3 việc: làm sao xóa được nợ của Liên xô cũ đối với Việt Nam, làm sao nối được quan hệ thương mại Việt Nam - Nga, làm sao có thể mua được vũ khí cho quân đội Việt Nam.

Tôi không biết việc tôi làm có tốt hay không, vì đó là tập thể, lúc đó có rất nhiều người tham gia nhưng tôi nhận được sự nhận xét của lãnh đạo là tôi làm rất tốt. Tôi không đi sâu vì đây liên quan an ninh quốc gia. Người giúp tôi trong 5 năm làm việc này là anh Lê Vũ Kỳ, một trong 2 người trực tiếp dịch cho tôi. Hồ sơ vụ này cơ quan điều tra đã thu giữ đầy đủ, hãy trả lại hồ sơ đó cho tôi vì đó là tài liệu cá nhân.

Việc thứ 2 là đầu những năm 90, ngành điện đã rất nỗ lực để đưa 4 tổ máy 5, 6, 7, 8 của thủy điện Hòa Bình hoạt động đúng tiến độ phát điện góp phần xây dựng đất nước. Tôi và anh Kỳ đã góp phần đưa 4 tổ máy này về với giá rẻ nhất, nhanh nhất, đảm bảo tiến độ. Anh Kỳ đã có công rất lớn.

Thứ ba, những năm 90-95, tổng công ty may Việt Nam đứng trước việc là rất nhiều…

(HĐXX yêu cầu nói rõ tâm tư nguyện vọng…)

Cơ quan điều tra nói rằng tôi có ý thức, ý định thâu tóm hệ thống ngân hàng Việt Nam, lũng đoạn hệ thống NHVN, tôi xin chứng minh không có điều này:

Vào những năm Thị trường chứng khoán Việt Nam mới bắt đầu, có rất nhiều kẽ hở để có thể thao túng, tôi biết rất rõ kẽ hở ở đâu, có thể kiếm rất nhiều tiền nhưng không làm. Tôi và Lý Xuân Hải đã viết 1 báo cáo gửi cho lãnh đạo đảng, nhà nước về hiện tượng này và kiến nghị những việc cần làm. Báo cáo này được gửi tới nguyên tổng bí thư Đỗ Mười, thủ tướng Phan Văn Khải đã có thư gửi các bộ xem xét… rồi sau đó các Bộ này và chính phủ có những giải pháp chống việc thao túng giá trong thị trường. Đó là việc tôi làm.

Về việc NHNN, lĩnh vực tôi hoạt động chính, không phải hôm nay tôi mới nói tại tòa mà xin ghi nhận tôi đã có những ý kiến cho NHNN ngay từ khi xây dựng đề án báo cáo Bộ chính trị thông qua chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2005-2010, tầm nhìn 2015-2020. Những báo cáo đó bằng văn bản. Ngay cả việc sắp xếp chấn chỉnh hệ thống NHTM Việt Nam, tôi và 1 số chuyên gia đã có báo cáo chấn chỉnh như thế nào.

Tôi xin tận dụng những giây phút hiếm hoi để nói đề nghị lãnh đạo Đảng, nhà nước lưu ý ba việc rất cần thiết: Một là việc sắp xếp lại các NHTMCP không phải là việc sắp xếp số học, không phải cộng ngân hàng yếu thành NH mạnh, hãy dừng NH mạnh kèm NH yếu. Đó là phương pháp hiệu quả nhất. Thứ hai, trong 30 NHTMCP đang hoạt động, trong 5 NHTM nhà nước đang hoạt động, có 3 NHTM có vấn đề lớn. Tôi không nêu tên đích danh NH nào đang gây nguy hiểm cho hệ thống, nhưng nêu 3 NH như thế để các lãnh đạo lưu ý. Thứ ba, đừng để bị NH nước ngoài chi phối để làm mất đi trái tim của nền kinh tế.

Về 4 tội danh tôi bị truy tố, 3 tội danh tôi không nói nữa nhưng riêng tội lừa đảo tôi nói thêm: tôi, Thanh, Yến không lừa đảo chiếm đoạt của ai cả. Sai sót dẫn đến vụ này là do sai sót của Công ty TNHH MTV Thép Hòa Phát, bằng 1 loạt các hành vi không liên quan đến việc biết hay không biết của anh Dương, Long, Hà hoàn toàn nằm trong ý thức của giám đốc Công ty TNHH MTV Thép Hòa Phát.

Tại tòa tôi đã nộp đơn khiếu nại, tôi xin kể đích danh những người làm sai phạm hồ sơ vụ án... Tôi cho rằng đơn khiếu nại của tôi cần có sự trả lời công khai. Tôi nói điều này là đã đặt mình và gia đình trước sự nguy hiểm vô cùng, nhưng tôi đặt niềm tin vào 90 triệu người dân Việt Nam, những người này sẽ bảo vệ tôi.

Về các tội danh khác, một lần nữa tôi khẳng định tôi không phạm tội kinh doanh trái phép, cố ý làm trái, trốn thuế. Còn tôi không phạm tội như thế nào trong phiên tòa đã được các LS đưa ra các luận cứ, chứng minh bằng các lý lẽ cụ thể.

Thời gian không có nhiều, tôi xin HĐXX nêu 1 số kiến nghị với lãnh đạo đảng, Nhà nước:

Kính đề nghị ông Nguyễn Phú Trọng Tổng bí thư xem xét toàn diện, cẩn trọng các vấn đề liên quan đến vụ án này và mong muốn ông giao cho Ban kinh tế trung ương, ban nội chính trung ương đánh giá lại toàn bộ vụ án để bảo vệ quyền công dân của tôi.

Kính đề nghị ông Trương Tấn Sang - chủ tịch nước là người đứng đầu, ông sẽ giúp tôi được minh oan.

Kính đề nghị ông Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Chính phủ là người điều hành đất nước, mong ông có những hành động thiết thực để bảo vệ các doanh nghiệp Việt Nam để làm sao có thể đóng góp xây dựng đất nước.

Kính đề nghị ông Nguyễn Sinh Hùng - chủ tịch quốc hội, vụ án của tôi liên quan 1 số nội dung thuộc thẩm quyền quốc hội, mong ông xem xét trả lời để xem ý kiến về các văn bản như thế nào…

Là 1 cử tri của phường Quảng An, Tây Hồ mong các vị đại biểu tôi đã bỏ phiếu có tiếng nói trong quốc hội để giúp tôi bảo vệ quyền công dân của 1 cá nhân cần được đảm bảo.

Đề nghị lãnh đạo ngành tư pháp Trung ương trong đó có Bộ trưởng, Thứ trưởng tổng cục 6 đừng để nhận được những thành tích từ vụ án này.

Đề nghị HĐXX: thứ nhất, tôi đề nghị HĐXX chưa có đầy đủ thời gian nghiên cứu tài liệu hồ sơ thì đừng tuyên án vào ngày 5/6 , nếu vẫn tuyên thì có thể là bản án đã tuyên từ trước. Thứ 2, hiến pháp VN quy định tại điều 31 , điều 4, đề nghị HĐXX chờ sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo đảng, nhà nước để giúp tôi đảm bảo quyền công dân theo hiến pháp quy định; xem xét yêu cầu cơ quan điều tra về việc phong tỏa tài sản của tôi và gia đình, đây là tài sản do mồ hôi nước mắt tôi làm ra trong 30 năm qua, không liên quan đến vụ án. Nếu phát sinh nghĩa vụ dân sự thì công ty B&B là 1 pháp nhân….

Thứ tư, tôi hoàn toàn tin tưởng vào HĐXX khi tôi hỏi thư ký tòa thành phần HĐXX là ai, tôi rất mừng là có 1 người là nguyên sĩ quan quân sự, đồng ngũ của tôi. Những đồng nghiệp của bố mẹ tôi… Và đặc biệt chủ tọa phiên tòa, thẩm phán rất có kinh nghiệm. Tôi hoàn toàn tin tưởng.

Dù án xử của các vị có minh oan cho tôi hay như thế nào thì tôi cũng hiểu các vị hiểu bản chất vụ án không như cáo trạng nêu; đề nghị HĐXX khi đưa ra những phán xử về tôi với những đồng nghiệp của tôi thì hãy nghĩ rằng phán quyết của HĐXX không chỉ liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của tôi mà là minh chứng rõ ràng nhất Việt Nam này là đất nước dân chủ, có pháp quyền, người dân được bảo vệ. Chúng tôi phải tâm phục khẩu phục chứ không phải gây oan sai cho chúng tôi. Cho tôi được tại ngoại chờ thi hành án vì tôi đã không trốn chạy khi có thể trốn chạy, không có lý do gì khi kết tội tôi lại trốn chạy.

Những điều cần nói, cần gửi gắm tôi đã nói tại tòa ko cần tranh cãi, có 1 điều nhỏ: tôi hiểu những tác hại ngược của nó khi tôi nói tại tòa, nếu vẫn phải tạm giam thì cho tôi chuyển trại.

Tất cả những gì tôi nói hôm nay là nguyện vọng ước ao mong muốn của 1 công dân luôn tuân thủ pháp luật, tôn trọng pháp luật, 1 công dân có những đóng góp nhất định, tạo dựng nhiều Doanh nghiệp với chục ngàn lao động, đóng góp thuế, những DN này đã được công nhận trong rất nhiều năm.

Tôi tin tưởng 90 triệu người dân Việt Nam, tôi tin tưởng đất nước này, tôi yêu đất nước này. Tôi mong những người dân đều góp sức xây dựng đất nước.

Theo Trithuctre 
Nguồn => http://vietq.vn/vu-an-bau-kien-toan-van-loi-noi-cuoi-cung-cua-bau-kien-d34586.html

Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

Gia tộc Rothschild

Gia tộc Rothschild (cách phát âm tiếng Anh: [rɒθs.tʃaɪld]; tiếng Đức: [ʁoːt.ʃɪlt]; tiếng Pháp: [ʁɔt.ʃild]; tiếng Ý: [rɔtʃild]) là một gia tộc có nguồn gốc từ Frankfurt, Đức. 
Họ đã tạo nên một đế chế tài chính - ngân hàng tại châu Âu bắt đầu từ cuối thế kỷ 18, đế chế này thậm chí còn vượt qua những gia tộc làm ngành ngân hàng mạnh nhất mọi thời đại như Baring và Berenberg.  
Năm chi thuộc nhánh gia tộc Rothschild tại Áo đã được nâng lên tầm lớp quý tộc, được phong năm danh hiệu truyền đời "Nam tước" của hoàng triều Habsburg bởi Hoàng đế Franz II năm 1816. Một nhánh khác thuộc nhánh gia đình Rothschild tại Anh cũng được nâng lên hàng quý tộc theo yêu cầu của Nữ hoàng Victoria, được hai danh hiệu truyền đời là Nam tước (1847) và Công tước (1885). 
Trong những năm 1800, khi lên đến đỉnh cao danh vọng, người ta cho rằng gia đình Rothschild đã sở hữu một khối tài sản lớn nhất thế giới khi đó nói riêng và trong toàn bộ lịch sử thế giới hiện đại nói chung. Sau đó, theo phỏng đoán, khối tài sản này đã giảm xuống cũng như đã bị chia nhỏ cho hàng trăm con cháu trong gia đình. Sự giàu có của gia tộc trở nên bí mật. Họ đã hiến tặng nhiều biệt thự nổi tiếng cũng như rất nhiều số lượng các tác phẩm nghệ thuật cho từ thiện và tránh phô trương tài sản thật sự của gia tộc. Ngày nay, kinh doanh của gia tộc đã ở một mức độ nhỏ hơn khi so sánh với kinh doanh của họ xuyên suốt thế kỷ XIX, tuy rằng họ đã mở rộng đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh như: kinh doanh ngân hàng, quản lý tài chính, tư vấn tài chính, kinh doanh rượu vang và từ thiện. 
Hơn hai thế kỉ, nhà Rothschild đã thường xuyên trở thành đề tài của thuyết âm mưu. Những thuyết này khá đa dạng và phong phú, trong đó có thể kể ra như thuyết nói về việc gia tộc này điều khiển các tổ chức tài chính của thế giới, hay điều khiển những cuộc chiến tranh giữa các chính phủ. Đào sâu vào thuyết này và những góc nhìn tương tự thì nhà lịch sử học Niall Ferguson đã viết rằng, "Theo như chúng ta biết thì chiến tranh thường có xu hướng thay đổi giá cả của một trái phiếu hiện hành bởi sự gia tăng rủi ro khi một nhà nước không thể thanh toán khoản nợ của mình cho công ty do sự thất bại và mất mát lãnh thổ. Vào giữa thế kỉ XIX, nhà Rothschild đã phát triển và mở rộng từ mảng giao dịch sang quản lý nguồn vốn, thận trọng các quản lý và chăm sóc cho các danh mục đầu tư lớn của họ vào trái phiếu chính phủ. Sau khi đã có một khoản tiền nhất định, họ chịu thất thoát trong các xung đột. Nhà Rothschild đã quyết định kết quả của cuộc chiến Napoléon bằng cách đặt cán cân tài chính nghiêng về phía quân Anh. Và bây giờ, họ chỉ việc ngồi nhìn trên băng ghế dự bị."
Người đầu tiên được biết đến với họ "Rothschild" là Izaak Elchanan Rothschild, sinh năm 1577. Họ này nghĩa là "Tấm khiên đỏ" trong ngôn ngữ cổ của Đức. Dòng họ này bắt đầu nổi danh thế giới từ 1744, với sự ra đời của Mayer Amschel Rothschild tại Frankfurt am Main, Đức. Ông là con của Amschel Moses Rothschild (sinh vào khoảng năm 1710), một nhà đổi tiền đã từng giao thương với Vương công xứ Hesse. Sinh ra trong một ghetto (hay còn gọi là xóm Do Thái), Mayer đã phát triển một gia đình làm tài chính và mở rộng đế chế bằng cách cử năm con trai của mình đi nằm vùng tại năm trung tâm tài chính của châu Âu. Cánh tay trên gia huy của dòng họ Rothschild cầm năm mũi tên nhằm ám chỉ năm đế chế được năm người con của Mayer Rothschild dựng nên, như trong Psalm 127 có dẫn: "Như những mũi tên trong tay người chiến binh, những đứa trẻ của ta cũng vậy.". Gia ngôn của dòng họ được viết ngay dưới tấm khiên trên gia huy: Concordia, Integritas, Industria (Thống nhất, toàn vẹn, công nghiệp).
Paul Johnson có viết: Gia đình Rothschild rất là lảnh tránh. Không có quyển sách nào hé lộ "bí mật" về họ mà lại chuẩn xác cả. Cả một kho chuyện nhảm nhí đã được viết về họ... 
Một người phụ nữ định viết một quyển sách có tên: "Những điều dối trá về gia tộc Rothschild" rút cục phải bỏ dở, bà nói: "Quá dễ để chỉ ra sự dối trá nhưng để tìm thấy sự thật thì bất khả thi".

Những hội đồng Do Thái trước đó đã từng tài trợ và quản lý những gia đình quý tộc ở châu Âu, tuy nhiên lại mất hết tài sản do bị tước đoạt hay bị cướp. Không giống họ, ngân hàng quốc tế kiểu mới của gia tộc Rothschild không thể bị tước đoạt. Tài sản của họ là các công cụ tài chính, xoay vòng trên toàn thế giới như cổ phiếu, trái phiếu và nợ. Những thay đổi của dòng họ Rothschild cũng khiến tội phạm không thể động đến họ: "Do đó, tài sản thực của họ nằm ngoài tầm tay của bọn trộm cướp, và gần như thoát khỏi sự tham lam của vua chúa.". 
Johnson cho rằng tài sản của gia đình Rothschild trở nên đồ sộ là nhờ Nathan Mayer Rothschild ở Luân Đôn; tuy nhiên những nghiên cứu gần đây của Niall Ferguson cho thấy những khoản lãi tương ứng hoặc lớn hơn đến từ những đế chế Rothschild khác, bao gồm James Mayer Rothschild ở Paris, Carl von Rothschild ở Napoli và Amschel Mayer ở Frankfurt. 
Một phần thiết yếu trong chiến lược cho thành công trong tương lai của Mayer Rothschild là chỉ để người trong gia tộc quản lý, đảm bảo rằng họ có thể giữ bí mật về lượng tài sản thực sự của mình.
Khoảng năm 1906, bách khoa toàn thư của người Do Thái có viết: "Chính gia tộc Rothschild khởi xướng phong trào cho một số anh em trong công ty mở chi nhánh ở các trung tâm tài chính khác, những nhà tài chính người Do Thái khác cũng đi theo phong trào này, ví dụ như dòng họ Bischoffsheim, Pereire, Seligman, Lazard và những người khác, và những nhà tài chính này với sự đoàn kết cộng với kỹ năng tài chính đã thu lời không chỉ từ cộng đồng Do Thái mà từ cả giới ngân hàng nói chung. Bằng cách này các nhà tài chính người Do Thái đã tăng thị phần trên thị trường tài chính trong suốt quãng thời gian hai mươi lăm năm cuối thế kỷ 19. Người dẫn đầu là gia tộc Rothschild...". 
Bách khoa toàn thư cũng viết rằng: "Trong những năm gần đây, những nhà tài chính không phải gốc Do Thái cũng đã học được phương pháp này, và, tính trên tổng thể, người Do Thái kiểm soát ít hơn trước kia." 
Mayer Rothschild đã bảo vệ thành công gia sản thông qua những cuộc hôn nhân được sắp xếp cẩn trọng, thường là giữa cặp anh em họ thứ nhất hoặc thứ hai (tương tự như cách cưới trong nội bộ hoàng gia). Tuy nhiên vào cuối thế kỷ 19, đại đa số nhà Rothschil bắt đầu cưới người ngoại tộc, thường là với quý tộc hoặc với người nhà đế chế tài chính khác. 
Tên của gia tộc "Rothschild" ở Đức phát âm gần với ROT-shillt trong tiếng Đức, không phải là wroth(s)-child trong tiếng Anh. Tên đệm "Rothschild" khá phổ biến ở Đức, và đại đa số người mang tên này không có liên hệ gì với gia tộc này. Hơn thế nữa, tên đệm của người Đức "Rothschild" hay "Rothchild" không liên quan đến tên đệm "Rothchilds" của người Tin Lành ở Anh Quốc. 
Vào năm 1816, từng người trong số bốn những người anh em nhà Rothschild được phong tước quý tộc bởi vua nước Áo Francis I; hơn thế nữa, một người anh em thứ năm, Nathan, được phong tước năm 1818. Tất cả bọn họ đều được phong tước Baron hay Freiherr trong tiếng Đức vào ngày 29 tháng 9 năm 1822. Cũng như thế, một số thành viên trong gia tộc sử dụng danh tước "de" hoặc "von" Rothschild để thừa nhận giai cấp trong giới quí tộc. Barons (kỵ sĩ) là những người nhận tước phong của họ từ hoàng đế của đế chế La mã được biết đến như những Nam tước của Đế chế La Mã Thần thánh, Reichsfreiherr (tước Nam tước trong tiếng Đức) cũng là một danh hiệu nhưng thường được rút gọn lại thành Freiherr. 
Vào năm 1847, Sir Anthony de Rothschild được phong một tước hiệu nam tước gia truyền của Vương quốc Anh. Năm 1885, Nathan Mayer Rothschild II (1840–1915) của chi nhánh Luân đôn thuộc gia tộc, được phong tước quý tộc gia truyền Baron Rothschild trong giới quý tộc của vương quốc Anh thời bấy giờ. 

Công việc kinh doanh ngân hàng của gia tộc Rothschild đi tiên phong trong tài chính cao cấp quốc tế xuyên suốt quá trình công nghiệp hóa của Châu Âu và là công cụ trong việc hỗ trợ hệ thống đường sắt xuyên thế giới cũng như những dự án tài chính phức tạp của chính phủ như Kênh đào Suez. Xuyên suốt thế kỉ 19, gia tộc đã mua một phần tài sản lớn tại Mayfair, Luân Đôn. Những tập đoàn kinh doanh chính có nguồn vốn từ gia tộc Rothschild ở thế kỉ 19 bao gồm:
Alliance Assurance (1824) (giờ là Royal & SunAlliance); Chemin de Fer du Nord (1845); Công ty khai thác khoáng sản Rio Tinto (1873) (từ thập niên 1880 trở đi nhà Rothschild đã tiếp quản hoàn toàn công ty Rio Tinto); Eramet (1880); Imerys (1880); De Beers (1888)

Gia tộc Rothschild tài trợ Cecil Rhodes trong cuộc mở thuộc địa tại Rhodesia, Châu Phi. Từ cuối thập niên 1880 trở đi, gia tộc tiếp quản điều khiển công ty khai thác khoáng sản Rio Tinto.

Chính phủ Nhật tiếp cận gia tộc tại Luân Đôn và Paris để kêu gọi hỗ trợ tiền trợ cấp trong Chiến tranh Nga-Nhật. Tập đoàn Rothschild tại Luân Đôn cho chính phủ Nhật mượn một khoản trái phiếu trị giá lên đến tổng cộng 11.5 triệu bảng Anh (vào năm 1907 tỉ giá; tương đương 1.03 tỉ bảng Anh tính theo tỉ giá năm 2012).

Cái tên Rothschild đã trở thành biểu tượng của sự hoang phí và giàu có, gia tộc cũng nổi tiếng với những bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật, những cung điện hay những hoạt động từ thiện. Vào cuối thế kỉ XIX, gia tộc đã sở hữu hay đã xây dựng với ước tính thấp nhất là hơn 41 cung điện với quy mô đầy lãng phí, sang trọng chưa từng có kể cả bởi những gia tộc hoàng gia giàu có nhất. Chẳng bao lâu sau, thủ tướng chính phủ Anh Lloyd George xác nhận vào năm 1909 rằng Ngài Nathan Rothschild là người đàn ông quyền lực nhất tại Anh.
Vào năm 1901, khi không có thế hệ nam nối dõi, gia tộc tại Frankfurt đóng cửa sau hơn một thế kỷ kinh doanh. Mãi đến 1989 gia tộc mới gầy dựng lại, khi N M Rothschild & Sons, công ty đầu tư tại Anh cùng với ngân hàng Rothschild AG, thuộc chi nhánh Thụy Sĩ, thành lập văn phòng đại diện cho việc kinh doanh ngân hàng tại Frankfurt.

Gia tộc đã từng có một trong những bộ sưu tập nghệ thuật tư nhân lớn nhất thế giới, nhà Rothschild đã hiến tặng nhiều bảo tàng công cộng trên thế giới ở một tỷ lệ đáng kể. Đôi khi những bảo tàng này được hiến tặng một cách bí mật vì truyền thống thận trọng của gia tộc.

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

VietinBank rũ bỏ trách nhiệm

Chiều 10-1-2014, sau bốn ngày chờ đợi sự lên tiếng của đại diện Ngân hàng VietinBank, một đại diện của VietinBank xuất hiện trước tòa và làm ngỡ ngàng những người có mặt.
Người đàn ông này đã trả lời hơn 50 câu hỏi của các luật sư bằng cách... đọc văn bản. Nhấn mạnh trước tòa rằng mình là đại diện của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương VN (VietinBank) nhưng các câu trả lời của ông này là tư cách cá nhân: “Tôi khẳng định tôi đại diện cho Ngân hàng Công thương nhưng tôi trả lời với tư cách cá nhân. Tôi muốn nói rạch ròi điều này để tránh nhầm tưởng tư cách cá nhân giống như Huỳnh Thị Huyền Như khi tham gia thỏa thuận và thực hiện các giao dịch”. 
Liên quan đến việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán nói chung và tài khoản tiền gửi nói riêng, vị đại diện VietinBank cho rằng trách nhiệm của ngân hàng phát sinh theo Luật tổ chức tín dụng, nghị định 64/2001, quyết định 1284 của Ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy định nghiệp vụ của ngân hàng và theo thỏa thuận của các bên. “Trong tất cả văn bản pháp luật được viện dẫn ở trên, không có định nghĩa về quản lý tài khoản nên không thể nói và không thể trả lời về trách nhiệm quản lý tài khoản” - ông nói. 
Theo lập luận của đại diện VietinBank, trong các văn bản trên có quy định về trách nhiệm của ngân hàng đối với việc mở và sử dụng tài khoản của ngân hàng đối với khách hàng (ví dụ tại điều 12 quyết định 1284 của Ngân hàng Nhà nước về ban hành quy chế về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng đã thực hiện về việc lập hồ sơ mở tài khoản, lập chứng từ giao dịch và các quy định có liên quan trong việc sử dụng tài khoản...) và do đó, theo ông này: “Số dư trên tài khoản là thuộc quyền sở hữu của chủ tài khoản, bởi vậy khách hàng có thể kiểm tra tài khoản trên hệ thống thanh toán tài khoản, được quyền định đoạt số dư đó theo quy định của pháp luật”. 
Còn về trách nhiệm của ngân hàng đối với số dư trên tài khoản của khách hàng được trả lời như sau: “Trách nhiệm của ngân hàng không phải là trách nhiệm quản lý tài khoản hay trách nhiệm với số dư trên tài khoản, mà trách nhiệm cung ứng, kiểm soát các phương tiện thanh toán khi ngân hàng sử dụng số dư trên tài khoản phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận hợp pháp với khách hàng. Trách nhiệm của ngân hàng chỉ phát sinh khi khách hàng thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Trách nhiệm của khách hàng được quy định cụ thể tại điều 10 quyết định 1284”. 
Ông nhấn mạnh: “Việc phát sinh trách nhiệm của VietinBank theo hợp đồng tiền gửi thì hợp đồng đó phải do VietinBank xác lập, đối với những hợp đồng bị giả mạo chữ ký hoặc con dấu thì trách nhiệm của VietinBank đương nhiên không phát sinh”.
Chờ đợi bốn ngày để rồi nhận được câu trả lời với tư cách cá nhân như vậy khiến các luật sư bức xúc. Ngay lập tức một số luật sư đã thể hiện quan điểm của mình bằng những đề nghị với hội đồng xét xử (HĐXX):
 luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ba công ty Phúc Vinh, Hưng Yên, Thịnh Phát không đồng tình với cách trả lời này nên yêu cầu HĐXX không chấp nhận tư cách trả lời của vị đại diện VietinBank.
Ngay sau phần ý kiến của luật sư đại diện ba công ty, luật sư Nguyễn Huy Thiệp (bào chữa cho bị cáo Phạm Anh Tuấn, bị cáo này phủ nhận cáo buộc của cáo trạng về tội danh) cũng đề nghị HĐXX xem xét lại tư cách của người đàn ông tự xưng là đại diện của VietinBank, bởi các luật sư không hỏi người này với tư cách cá nhân. Còn luật sư Trương Thanh Đức (bảo vệ quyền lợi cho Ngân hàng NaviBank) đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa để triệu tập đại diện VietinBank. Luật sư Ngô Đình Trấn (bảo vệ quyền lợi cho Công ty cổ phần dầu khí Thái Bình Dương) xin rút lại các câu hỏi đã đặt ra.
Sau phản đối dữ dội của các luật sư tại tòa, đại diện VietinBank đã nói lại rằng: “Tôi trả lời với tư cách đại diện VietinBank”. 
Tuy nhiên, câu khẳng định thêm này không làm dịu đi sự bức xúc của các luật sư. Ra khỏi phòng xét xử, các luật sư không ngừng bàn tán và thậm chí có luật sư đã nói: “Không khác nào xem diễn hài kịch ở tòa”. Thậm chí, có luật sư đã nói đại diện VietinBank không chỉ coi thường luật sư mà còn coi thường cả HĐXX, xem việc ra tòa như một trò hề!
Ngay sau phần trả lời của đại diện VietinBank và sự phản đối của các luật sư, thẩm phán chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Sáu cho rằng phần trả lời của đại diện VietinBank chưa đến được với những câu hỏi yêu cầu phải chứng minh. Thẩm phán Sáu cũng khẳng định vào phần tranh tụng của phiên tòa vào tuần sau thì đại diện VietinBank sẽ phải trả lời các câu hỏi trực tiếp của luật sư.
Trước đó ngày 9-1-2014, trả lời trên một tờ báo điện tử, một lãnh đạo VietinBank khẳng định VietinBank không liên quan tới vụ việc và cũng không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tờ báo điện tử dẫn lời ông Hùng nói đây là việc lừa đảo của cá nhân Huyền Như. Vị lãnh đạo này cho biết tiền các cá nhân, doanh nghiệp gửi qua Huyền Như không hề được cập nhật vào hệ thống của VietinBank. 
Vào phiên thẩm vấn của mình, luật sư Lưu Văn Tám (bảo vệ quyền và lợi ích của Ngân hàng ACB) đã nêu bài báo trên và bức xúc đề nghị HĐXX triệu tập ngay ông Phạm Huy Hùng - chủ tịch HĐQT VietinBank - đến tòa. Đây không phải là lần đầu tiên luật sư Tám đưa ra kiến nghị đó mà ngay trong ngày đầu tiên của phiên tòa, luật sư Tám và các luật sư khác đã đưa ra kiến nghị này. Khẳng định những lời nói của ông Hùng trên tờ báo điện tử là thiếu trách nhiệm, luật sư Tám trưng ra tại tòa 32 hợp đồng, 32 sao kê của 17 nhân viên ACB đã ký với VietinBank chứng tỏ tiền của ACB đã vào đến tài khoản của VietinBank. Luật sư này cho rằng: “Đến nay chưa có ai, chưa có đơn vị nào khẳng định những hợp đồng và các bản sao kê này là vô hiệu”. 
(Nguồn: tuoitre

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Vàng Tài Khoản không phải là "Vàng Ảo"

Từ khi Việt Nam xuất hiện hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài (2006) và kinh doanh vàng tại các trung tâm giao dịch vàng hay còn gọi là sàn vàng (2007), một số phương tiện truyền thông trong nước thường đề cập đến khái niệm “vàng ảo”. Tuy nhiên, theo người viết, khái niệm “vàng ảo” chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề và gây ra nhiều ngộ nhận không cần thiết đối với các nhà đầu tư, nhà phân tích, nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách.
Nhiều bài viết về thị trường vàng có vẻ thích dùng từ “vàng ảo” (viết nháy trong ngoặc kép). 
Tuy nhiên, nội dung bài viết thường chỉ mô tả được một vài khía cạnh đơn lẻ trong quy trình kỹ thuật sản phẩm và thiếu góc nhìn toàn cục của hoạt động kinh doanh vàng, rồi đi đến kết luận bằng vài chữ đại loại “như thế là ảo”, hoặc “đó là vàng ảo”. 
Nói cách khác, một khái niệm mới được nêu ra, nhưng thiếu định nghĩa thấu đáo để có thể thảo luận.  
Cái gọi là “vàng ảo” mà một số bài viết nêu lên thường muốn gắn kết với vàng trên tài khoản. 
Ngoài ra, còn có một số tình huống ngộ nhận khác cũng bị quy kết là “ảo”.
Người viết kỳ vọng, việc phân tích cụ thể ba trường hợp dưới đây - xuất phát từ kinh nghiệm và cơ sở lý luận thực tiễn - sẽ giúp phản ánh đúng bản chất vấn đề của thị trường vàng dưới góc nhìn đa chiều và logic, qua đó chứng minh khái niệm “vàng ảo” là không có cơ sở. 

Trường hợp 1: Vàng trên tài khoản không phải là vàng ảo 


Có lẽ do quá  quen với cảnh mua bán vàng miếng ở Việt Nam (một cách thức giao dịch lâu đời, nhưng ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro), nên người ta dễ có khuynh hướng xem vàng không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình là “vàng ảo”. Lập luận này thiếu căn cứ do không dựa trên nền tảng về chuẩn mực hạch toán kế toán.


Lấy ví dụ về một doanh nghiệp Việt Nam (gọi tắt là “Bên A”) xuất khẩu 100 kg vàng vật chất cho người mua ở Thụy Sĩ (gọi tắt là “Bên B”). Sau khi nhận hàng và khấu trừ mọi chi phí phát sinh, Bên B sẽ ghi có số dư vàng vào tài khoản vàng (metal account) của Bên A mở trên sổ sách kế toán của Bên B.


Chi phí phát sinh do Bên A chịu bao gồm: (i) phí tinh luyện nếu lô hàng có hàm lượng dưới 99,99% (refining cost), (ii) phí giám định (assaying cost), và (iii) phí nghiệp vụ (handling cost). Để đơn giản hóa ví dụ, giả định tổng chi phí của lô hàng là 1 kg vàng.


Vậy, số lượng 100 kg vàng vật chất sẽ được chuyển hóa hình thái thành số dư 99 kg vàng tài khoản. Thị trường tài chính quốc tế gọi vàng tài khoản là “loco London gold” (loco: viết tắt của chữ location, nghĩa là địa điểm), tức vàng tinh chất 99,99% đạt tiêu chuẩn quốc tế có thể giao dịch tự do tại thị trường London (Anh).


Từ hình thái ban đầu là vàng vật chất có tính năng như hàng hóa (commodity) ẩn chứa nhiều chi phí và rủi ro trong giao dịch (như kiểm đếm, lưu kho, vận chuyển, bảo hiểm, an ninh, thất lạc, mất mát, nhân công…), nay vàng tài khoản trở thành một công cụ có tính thanh khoản cao (liquidity) với đầy đủ tính năng như tiền tệ (currency), có thể dễ dàng thực hiện nhiều nghiệp vụ như: (i) chuyển khoản vàng (gold transfer), (ii) gửi vàng (gold deposit), (iii) ký quỹ (gold margin), (iv) cho vay (gold lending), (v) thế chấp (gold collateral), và (vi) mua bán (gold trading)…


Trở lại ví dụ  trên, sau khi Bên B báo có số dư vàng cho Bên A, lúc này số dư vàng hạch toán trên tài khoản cũng hoàn toàn tương tự như số dư tiền gửi hạch toán trên tài khoản. Nói cách khác, Bên A là chủ sở hữu số dư vàng, còn Bên B là người đang nợ số dư vàng đó.


Với tư cách là chủ sở hữu số dư vàng, Bên A có thể ra lệnh điều chuyển vàng sang nơi khác hoặc bán số dư vàng lấy USD. Với số dư USD này (giống như thu ngoại tệ hàng xuất), Bên A có thể tùy nghi sử dụng phù hợp với quy định quản lý ngoại hối hiện hành hoặc có thể bán USD lấy VND, mang VND gửi ngân hàng hoặc rút VND tiền mặt nộp quỹ công ty mình. 


Quy trình xuất khẩu vàng nói trên cho thấy bước khởi đầu là vàng thực và bước cuối cùng là tiền thực, dù tiền USD hay tiền VND. Vậy, với điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là thực, nếu xem vàng trên tài khoản là vàng ảo, liệu có thể chấp nhận cách lập luận thiếu thuyết phục rằng để có thể xuất khẩu vàng thực nhằm thu về ngoại tệ/nội tệ thực, phải trải qua một công đoạn “ảo hóa vàng” trước, rồi mới có thể “thực hóa tiền” sau? 


Xét một khía cạnh khác, với số dư vàng sẵn có trên tài khoản chưa sử dụng hết, nếu cần thanh khoản vàng vật chất trong nước, Bên A có thể yêu cầu Bên B chuyển vàng về Việt Nam thông qua nghiệp vụ hoán đổi vàng vật chất (physical gold swap). Theo đó, Bên A chốt giá bán cho Bên B số dư vàng tài khoản cụ thể, đồng thời chốt giá mua của Bên B số lượng vàng vật chất tương ứng. Giá bán vàng tài khoản và giá mua vàng vật chất trong trường hợp này là cùng một giá (tức Bên A không phải trả chênh lệch giá cho Bên B).


Tuy nhiên, để có thể sở hữu vàng vật chất, Bên A phải trả cho Bên B phí chuyển đổi hình thái từ vàng tài khoản sang vàng vật chất mà thuật ngữ tài chính gọi là phí nhận vàng vật chất (physical premium). Về bản chất, phí nhận vàng vật chất bao gồm: (i) phí chế tác, (ii) phí vận chuyển, và (iii) phí bảo hiểm.


Với tính năng chuyển đổi dễ dàng từ số dư vàng tài khoản thành số lượng vàng vật chất nói trên, không thể gọi vàng tài khoản là vàng ảo được. Nếu vàng trên tài khoản là ảo, thì tiền VND, tiền USD hoặc bất cứ loại tiền tệ nào khác trên tài khoản cũng ảo nốt.


Tới đây, ta thấy rõ tính chất chuyển hóa linh hoạt từ hình thái vàng tài khoản sang hình thái vàng vật chất và ngược lại, tương tự như sự chuyển hóa linh hoạt hai chiều từ tiền mặt thành tiền gửi ngân hàng. Tiền hay vàng nằm trên tài khoản cùng với tính thanh khoản và tính lưu thông thuận tiện của chúng là một phát minh vĩ đại của con người thông qua sự ghi chép sổ sách của hệ thống kế toán.


Tóm lại, trên các thị trường tài chính tiên tiến trên thế giới, vốn đã đi trước Việt Nam hàng trăm năm cũng không có khái niệm vàng ảo. Đôi khi người ta thay thế thuật ngữ “loco London gold” bằng từ ngắn gọn “paper gold”, tức vàng trên giấy tờ sổ sách.


Vì vậy, cần loại bỏ khái niệm “vàng ảo”, mà chỉ nên sử dụng khái niệm vàng tài khoản. Muốn sáng tạo ra một khái niệm mới trong kinh tế, phải hiểu rõ và phản ánh đúng bản chất vấn đề. Ngoài chữ vàng tài khoản ra, có thể sử dụng hai thuật ngữ khác để có thể thay thế như: (i) vàng ghi sổ, (ii) vàng bút tệ. 


Về bản chất các thuật ngữ này đều có nội hàm như nhau, và quan trọng hơn hết chúng đều là vàng thực, vì xuất phát điểm cốt lõi của chúng đều dựa trên một tài sản nền có thực (real underlying asset), đó là vàng vật chất có trong tự nhiên.


Trường hợp 2: Kinh doanh vàng ký quỹ không phải là ảo


Kinh doanh vàng dưới hình thức ký quỹ phi tập trung (gold margin trading) hoặc dưới hình thức ký quỹ tập trung tại sàn vàng (gold trading exchange) có sử dụng đòn bẩy tài chính (financial leverage) là một trong những phương thức đầu tư vàng tiên tiến nhất trên thế giới thay cho cách mua bán vàng vật chất vốn ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro. 


Lợi ích của kinh doanh vàng ký quỹ tập trung tại sàn là:


- Tạo cơ hội kinh doanh trong nước cho nhà đầu tư một cách minh bạch thay cho kinh doanh trên mạng quốc tế một cách lén lút.


- Không đòi hỏi nhiều vốn, chỉ yêu cầu thanh toán một khoản ký quỹ ban đầu (initial margin) thay vì 100% giá trị giao dịch.


- Xác định mức lỗ tối đa khi mở trạng thái.


- Tự quyết định mức giá đặt lệnh, và cơ chế khớp lệnh liên tục giúp gia tăng tính thanh khoản của thị trường.


- Việc thanh toán mua bán sẽ được thực hiện bằng cách ghi nợ/ghi có trên tài khoản, giúp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp (sai sót trong kiểm đếm, giao nhận, thất lạc hoặc mất mát tiền/vàng), rủi ro thanh toán, rủi ro đối tác so với cách thức giao dịch vàng vật chất ngoài thị trường.


- Nhà nước dễ dàng đo lường quy mô giao dịch của thị trường và có thể áp dụng thu thuế đối với nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn khi cần thiết.


Vừa qua, có một số ý kiến cho rằng kinh doanh vàng ký quỹ với tỷ lệ ký quỹ ban đầu cao hơn 90% trên tổng quy mô trạng thái 100% mới là không “ảo”. Nếu tỷ lệ ký quỹ ở mức thấp 5% chẳng hạn, phần đòn bẩy tài chính 95% dưới hình thức cho vay được xem là “ảo”. Có thể tóm tắt ý chính của lập luận này là “ảo xảy ra khi tỷ lệ ký quỹ thấp và tỷ lệ cho vay cao”.


Trước tiên, có thể khẳng định ngay rằng kể cả khi mức tỷ lệ ký quỹ giảm xuống dưới 1% cũng không phải là ảo. Về bản chất, tỷ lệ ký quỹ chính là hạn mức chặn lỗ (slop loss limit) của nhà đầu tư. Nếu giá vàng biến động trái với kỳ vọng, nhà đầu tư chỉ lỗ đúng phần tiền đã ký quỹ, không phải lỗ toàn bộ 100% tổng quy mô trạng thái. Tỷ lệ ký quỹ dù ở mức độ nào cũng chỉ là thỏa thuận tự nguyện đã ghi trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị quản lý sàn.


Trước khi có công cụ kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn, nhà  đầu tư đã thực hiện kinh doanh vàng truyền thống dưới hình thức vay nợ ngân hàng và thế chấp bằng tài sản hình thành từ nợ vay từ hàng chục năm qua.


Ví dụ, nhà đầu tư muốn đầu tư giá xuống, đến ngân hàng vay vàng, bán vàng cho ngân hàng lấy VND, dùng VND thế chấp tại ngân hàng với tỷ lệ giải ngân theo hạn mức tín dụng do ngân hàng quy định. Nếu ngân hàng duyệt cho vay 95%, nhà đầu tư phải chuẩn bị vốn tự có 5% mới có thể thực hiện giao dịch. Giả sử giá vàng giảm như dự đoán, nhà đầu tư sẽ mua vàng trả nợ cộng lãi vay cho ngân hàng và hưởng lợi nhuận chênh lệch giá vàng. 


Về bản chất, cách thức kinh doanh vàng truyền thống và kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn là hoàn toàn giống nhau. Vốn tự có 5% chính là tỷ lệ ký quỹ của nhà đầu tư, tỷ lệ giải ngân 95% chính là đòn bẩy tài chính mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng. 


Nếu xem kinh doanh vàng với tỷ lệ ký quỹ thấp là “ảo” và giả sử nhà đầu tư nhận định đúng xu hướng giá và thu được lợi nhuận cụ thể, liệu phải giải thích như thế nào khi kinh doanh vàng “ảo” mà lại cho ra kết quả lãi “thực”? 


Nếu xem đòn bẩy tài chính 95% trong kinh doanh vàng ký quỹ là “ảo”, vậy tỷ lệ giải ngân 95% trong kinh doanh vàng truyền thống từ trước đến nay là “ảo” hết hay sao? 


Hơn 10 năm qua, phần lớn các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh và cho vay vàng theo cách truyền thống đều có lãi với số liệu hạch toán, kiểm toán minh bạch. Lãi này được phân bổ thành nhiều khoản mục, trong đó có thuế nộp ngân sách và cổ tức trả cho cổ đông. Chẳng lẽ các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh vàng nộp ngân sách “ảo” và trả cổ tức “ảo”? 


Tất cả các trạng thái kinh doanh vàng ký quỹ khi chưa tất toán sẽ  ở trong tình trạng lãi/lỗ tiềm năng (potential loss/profit), nhưng khi đã đóng toàn bộ trạng thái, kết quả chung cuộc sẽ là lãi/lỗ thực tế (realised loss/profit) hoặc hòa vốn (break-even), không có lãi/lỗ ảo ở đây. 


Tỷ lệ ký quỹ nhiều hay ít, cao hay thấp không liên quan gì đến khái niệm “ảo”. Điều cốt lõi cần thảo luận ở đây đó là để hạn chế tình trạng đầu tư quá mức trong hoạt động kinh doanh vàng ký quỹ, nên quy định chặt chẽ về: (i) mức tỷ lệ ký quỹ hợp lý, (ii) đối tượng khách hàng tham gia, (iii) quy mô tối đa của một giao dịch, (iv) quy mô tổng trạng thái tích lũy tối đa, (v) tổng dư nợ tín dụng tối đa, (vi) cách thức bảo hiểm rủi ro, và (vii) hình thức xử lý vi phạm. 


Trường hợp 3. Quy định “không được rút vàng, chỉ được rút VND” không phải là ảo


Có một vài nhận xét cho rằng nếu nhà đầu tư có trạng thái dương vàng trên sàn, nhưng không được rút vàng, mà chỉ được rút VND hoặc rút vàng trả phí, đó là kinh doanh vàng ảo.


Ngược lại, nếu nhà đầu tư được rút vàng bất cứ lúc nào, đó mới là không ảo. Nói ngắn gọn, theo lập luận này “ảo tức là không được rút vàng ra khỏi sàn”. 


Tới đây, cần nhấn mạnh một lần nữa rằng hình thái vàng tài khoản (hoặc vàng trên sàn) và hình thái vàng vật chất là hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau về hình thái này tất yếu dẫn đến chi phí vận hành và quản lý đối với chúng cũng khác nhau. Vì vậy, với số dư vàng trên sàn, muốn rút ra dưới dạng vật chất, chắc chắn sẽ phải trả một khoản phí, giống như “phí nhận vàng vật chất” như đã nêu trong trường hợp 1.


Có thể dẫn chứng một trường hợp tương tự về tiền mặt và tiền chuyển khoản. Một ngân hàng Việt Nam có số dư USD trên tài khoản nostro ở nước ngoài, muốn rút ngoại tệ tiền mặt phải trả phí cho ngân hàng nước ngoài. Cứ 1 USD chuyển khoản chỉ đổi được hơn 0,9 USD tiền mặt. 


Có một vài nguyên nhân chính về điều khoản “không cho rút vàng”:


- Chi phí lưu kho, bảo quản, vận chuyển… rất tốn kém.


- Tính thanh khoản đặc thù của vàng vật chất là rất kém so với tiền.


- Chính sách xuất nhập khẩu vàng chưa được tự do hóa, tức phải thông qua cơ chế cấp hạn ngạch (quota). Trong điều kiện đặc thù như thế, một khi chính sách chưa giải quyết quy luật cung-cầu vàng ở tầm vĩ mô, không có bên tham gia thị trường nào có thể tự xoay xở đầy đủ nguyên liệu vàng đầu vào để gia công, chế tác thành vàng vật chất cho nhà đầu tư.


Vào thời kỳ giữa những năm 1985, có trường hợp cá nhân và doanh nghiệp đã gửi tiền vào ngân hàng và không thể rút ra theo nhu cầu, nhưng không ai gọi đó là “tiền ảo”, vì người dân hiểu rằng trong từng điều kiện kinh tế đặc thù, việc điều hòa lưu lượng tiền mặt cho cả nền kinh tế đôi khi có những bất cập trong tác nghiệp. 


Tương tự như thế, sự “không-được-rút-ra” đối với vàng không phải là ảo. Điều khoản này phản ánh một thỏa thuận tự nguyện ghi rõ trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn. Nếu thấy điều khoản này bất tiện, nhà đầu tư không nên ký hợp đồng. Nếu thực sự có nhu cầu sở hữu vàng vật chất, nhà đầu tư hoàn toàn có thể tìm đến cách thức giao dịch ngoài sàn như từ trước đến nay. Với điều khoản “không cho rút vàng”, chỉ có thể nói đơn vị tổ chức sàn có sự bất cập trong việc quản lý thanh khoản vàng vật chất.


Thậm chí trong tương lai nếu Nhà nước cho phép tự do hóa luồng dịch chuyển vàng ra vào (free inflows and outflows of gold) trong đó có tự do hóa xuất nhập khẩu vàng như Thái Lan chẳng hạn, mà các đơn vị kinh doanh vàng vẫn áp dụng điều khoản “không cho rút vàng”, điều đó vẫn không phải là ảo. 


Tóm lại, có thể kết luận rằng về bản chất các hình thức kinh doanh vàng đã nêu trong bài phân tích này đều là vàng thực, vì các nhà đầu tư đều kinh doanh trên một tài sản nền có thực.


Trong lúc trà dư tửu hậu ngoài xã hội, có thể nói vui “trong thực có hư, trong hư có thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực”. Tuy nhiên, trong kinh doanh và quản lý kinh tế, không thể dung nạp các khái niệm nước đôi theo kiểu “vừa thực, vừa ảo” đan xen lẫn lộn.


Vì vậy:


- “Vàng tài khoản” không phải là ảo, vì đó là một hình thái thể hiện của vàng được ghi chép theo đúng bản chất của sổ sách kế toán.


- “Tỷ lệ ký quỹ thấp” không phải là ảo, vì đó là phần rủi ro tối đa mà nhà đầu tư đã xác định, đối ứng với hạn mức tín dụng mà ngân hàng xét duyệt.


- Điều khoản “không được rút vàng” không phải là ảo, vì điều đó vừa thể hiện một thỏa thuận tự nguyện giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng, vừa phản ánh đúng bản chất về tính thanh khoản kém của thị trường vàng trong nước, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế khách quan.


Muốn viết đúng về thị trường vàng, việc trang bị kiến thức cơ bản và cơ sở lý luận là điều cần thiết. Để quản lý và phát triển thị trường vàng một cách minh bạch và hiệu quả, nên tiếp nhận nhiều ý kiến phản biện đa chiều được tích lũy từ những kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời đối chiếu với các loại sản phẩm/dịch vụ tiên tiến về vàng trên thế giới mà ta chưa áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đồng bộ để từng bước tiến tới việc thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển của thị trường vàng trong nước so với khu vực, phù hợp với xu thế mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng. 


Không có con đường tắt nào vạch sẵn ở phía trước. 

* Tác giả bài viết là Giám đốc Trung tâm Vàng Ngân hàng Á Châu (ACB)
Hướng dẫn mở tài khoản kinh doanh vàng trực tuyến => mo-tai-khoan-kinh-doanh-vang-truc-tuyen
Tham khảo thêm

Ngân hàng Nhà nước mở lại Vàng Tài Khoản

Ngân hàng Nhà nước chính thức mở lại Vàng Tài Khoản. Người trong cuộc xem đây là một công cụ chính yếu cho giải pháp mới bình ổn thị trường.
Cuối ngày 6-10-2011, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức ban hành thông tư quy định về việc chấm dứt hoạt động huy động và cho vay bằng vàng của các tổ chức tín dụng; cùng với đó là cơ chế mở tài khoản vàng ở nước ngoài để cân bằng trạng thái nhằm bảo hiểm rủi ro biến động giá vàng. 
Cơ chế trên được mở cho 5 ngân hàng thương mại lớn, có hoạt động ngoại hối mạnh là Eximbank, Techcombank, Sacombank, DongA Bank và ACB. Hợp lực với nhóm ngân hàng này là Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) - đầu mối chiếm thị phần lớn nhất, có hệ thống phân phối mạnh nhất trên thị trường vàng Việt Nam hiện nay.
Trao đổi với VnEconomy, ông Nguyễn Thành Long, Tổng giám đốc SJC, cho biết giải pháp trên do Ngân hàng Nhà nước đưa ra và định hướng, dựa trên cơ sở thực tế của thị trường thời gian qua và tập trung vào mục tiêu tạo điều kiện lưu thông trên thị trường.
Điểm chính ở đây là Ngân hàng Nhà nước cho phép mở tài khoản vàng ở nước ngoài đối với 5 ngân hàng thương mại. 
Ý của Ngân hàng Nhà nước ở đây là kết hợp hai nguồn lực, giữa nhóm ngân hàng này với SJC, qua nghiệp vụ vàng tài khoản để cùng đồng loạt bán vàng ra với mức giá hợp lý bình ổn thị trường.
Sự hợp lực đó có từ 5 ngân hàng có hoạt động kinh doanh ngoại hối mạnh với một doanh nghiệp đầu mối có năng lực sản xuất cao, hệ thống phân phối lớn và thương hiệu mạnh trên thị trường.

Ông Long nhìn nhận rằng,
Hoạt động đồng loạt bán ra nói trên vừa mới thực hiện trong ngày hôm nay (6-10-2011) nhưng đã cho kết quả khả quan. 
Tuy nhiên, về lâu dài thì giải pháp phối hợp này cần một nguồn lực đủ mạnh, có sự thống nhất cao giữa các bên tham gia. 
Nếu sự phối hợp và thực hiện nửa vời thì hiệu quả sẽ không như mong muốn. Và cũng cần có thời gian để có những đánh giá đầy đủ.
Trong ngày đầu tiên thực hiện, giá vàng trong nước có đà giảm khá mạnh, mức giá cao hơn thế giới cũng đã rút xuống còn khoảng 1,7 triệu đồng/lượng thay vì trên 2 triệu đồng, thậm chí trên 4 triệu đồng trong những ngày gần đây.

Về phía các ngân hàng thương mại, trao đổi với VnEconomy, ông Trương Văn Phước, Tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) khá thận trọng khi cho rằng: việc điều tiết thị trường vàng một cách ổn định, cũng như chống vàng hóa, đô la hóa trong nền kinh tế cần có một quá trình. 
Nhưng lúc này, giải pháp trên được đưa ra là cần thiết để nhanh chóng can thiệp, rút ngắn chênh lệch giá trong nước với thế giới kéo dài như vừa qua. 
Ở đây, các ngân hàng tham gia là tự nguyện, cần phải liên minh các nguồn lực đó để bảo vệ người dân trước những biến động bất ổn trên thị trường này. 
Với mục đích đó, tôi cho rằng khi các ngân hàng tham gia, cũng như Eximbank, sẽ không đặt mục tiêu lợi nhuận hay chạy theo kinh doanh như những hoạt động thông thường. 
Quan trọng nhất vẫn là cùng thực hiện mục tiêu ổn định được thị trường vàng, gián tiếp hỗ trợ giữ ổn định các vấn đề khác liên quan.
Cũng theo ông Phước, qua giải pháp này của Ngân hàng Nhà nước, một lần nữa vai trò của Vàng Tài Khoản cần được nhìn nhận lại và khai thác những giá trị của nó. 
Ở đây, vai trò đó là tạo sự liên thông với thị trường thế giới, để cân bằng trạng thái nhằm bảo hiểm rủi ro biến động giá vàng như Ngân hàng Nhà nước lý giải khi mở lại cơ chế.
Trước đây, hoạt động vàng tài khoản của các tổ chức tín dụng đã được triển khai từ năm 2004. Tuy nhiên, trong những năm 2008 - 2009, trước sự bùng nổ của các sàn giao dịch vàng “ăn theo”, những hệ lụy của sự bùng nổ đó dẫn đến việc Ngân hàng Nhà nước quyết định chấm dứt hoạt động này tại các tổ chức tín dụng.

Nay, vàng tài khoản đã được mở lại, được xem là một công cụ chính yếu trong giải pháp bình ổn thị trường nói trên. Theo đó, những giá trị và vai trò tích cực của vàng tài khoản đã được “minh oan” thay vì bị xem như là một đầu mối gây bất cập và bị cấm như vừa qua.

Dĩ nhiên, khi mở lại như hiện nay, Ngân hàng Nhà nước chỉ mở cho một số ít tổ chức tín dụng, có cơ chế và các điều kiện ngặt nghèo quy định trong thông tư vừa ban hành để bảo đảm an toàn và hạn chế những phát sinh ngoài mong muốn.
Nguồn => minh oan cho vang tai khoan
Tham khảo thêm
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/08/kinh-doanh-ky-quy-la-gi.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/mo-tai-khoan-kinh-doanh-vang-truc-tuyen.html 
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/07/chien-luoc-giao-dich-danh-cho-fxpro.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/08/dich-vu-go-tai-khoan-chay.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/nhung-tro-lua-dao-tren-thi-truong-forex.html 
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/loi-tam-su-cua-jimmy.html 
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/jimmy-group-la-gi.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/05/tu-van-kinh-doanh-vang-vat-chat.html
=> www.jimmy-group.blogspot.com/2013/08/dich-vu-tu-van-luot-song-vang-sjc-sbv.html  

Mua Bán Vàng online - Vàng Tài Khoản

TienPhongBank sáng nay 31-7-2013 đã công bố dịch vụ mua bán vàng miếng qua mạng, cho phép thực hiện giao dịch không cần tới ngân hàng.
Đây là dịch vụ "lần đầu tiên triển khai" tại Việt Nam, mua bán vàng vật chất thông qua máy tính, thiết bị di động sử dụng hệ điều hành iOs hoặc Android. 
Khách hàng mở tài khoản tại Tienphong Bank, đăng ký sử dụng dịch vụ eGold, có thể thực hiện lệnh mua, bán vàng miếng theo giá niêm yết thực tế. 
Loại vàng giao dịch bao gồm vàng miếng SJC, nhẫn ép vỉ 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ, 10 chỉ của Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI.

Với ưu điểm giao dịch mọi nơi, khách hàng có thể bắt kịp mọi biến động giá vàng, mua bán nhanh nhất, quản lý hiệu quả tài sản vàng và tiền.


Tien Phong Bank đảm bảo giá giao dịch tốt nhất và giao dịch theo đúng giá niêm yết theo thời gian thực. 
Sau khi hoàn tất giao dịch, khách hàng nhận vàng vật chất trực tiếp tại các điểm giao dịch của TienPhong Bank trên toàn quốc.

TienPhong Bank sẽ gửi ngay email xác nhận kèm mã vạch thế hệ mới QR Code sau khi khách hàng hoàn tất giao dịch mua vàng qua Internet Banking. 
Khách hàng chỉ cần đưa mã QR Code cho giao dịch viên khi đến nhận vàng. 
Mọi thủ tục được tối giản và giao dịch rất nhanh chóng do mã vạch đã được mã hóa, đảm bảo bảo mật và an toàn nhất.

Trong thời gian kể từ khi khách hàng mua đến khi khách hàng nhận vàng, TienPhong Bank sẽ thực hiện giữ hộ vàng miễn phí. 
Ngoài ra, khách hàng được chuyển đổi miễn phí vàng nhẫn sang vàng miếng SJC và ngược lại.
Dịch vụ Mobile Banking của TienPhong Bank hỗ trợ trên tất cả các thiết bị di động sử dụng hệ điều hành IOS hay Android. 
Hiện hệ thống eCounter được triển khai tại hai địa điểm ở Hà Nội, sắp tới sẽ mở rộng ra các chi nhánh ở TP HCM và trong tương lai triển khai trên cả nước.

Với cổ đông lớn là một đơn vị chuyên kinh doanh vàng (Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI), Tienphong Bank được cho là có thế mạnh khi triển khai "dịch vụ mới". 


Chủ tịch Đỗ Minh Phú cho rằng: 

Dịch vụ này giúp giảm chi phí cho cả khách hàng và ngân hàng, hạn chế rủi ro khi mua bán vàng vật chất, giúp định danh, quản lý tốt hơn các giao dịch vàng. 
Mua bán vàng online chưa được quy định riêng biệt trong các văn bản pháp lý hiện hành, song dịch vụ này tích hợp các nghiệp vụ sẵn có của ngân hàng như giao dịch online (eBanking, Mobile Banking), mua bán và giữ hộ vàng miếng. 
Cả DOJI và Tienphong Bank đều có giấy phép kinh doanh vàng miếng. 
Tienphong Bank cũng được cấp phép dịch vụ giữ hộ vàng.
Ông Phú cho biết, vàng khách hàng đã mua online nếu không rút ngay có thể chuyển vào "kho" để nhờ ngân hàng giữ hộ, trước mắt chưa thu phí. 
"Ngân hàng giữ số vàng này cho tới khi khách có nhu cầu rút hoặc giao dịch tiếp, không sử dụng vào mục đích khác"
Tham gia lễ công bố sáng nay, ông Đào Minh Tú, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho rằng:
Dịch vụ eGold là một giải pháp cạnh tranh trên thị trường ngân hàng hiện nay. 
Tuy nhiên, ông cũng lưu ý công nghệ hiện đại luôn đi kèm với mặt trái, tin tặc có thể tấn công vào hệ thống gây hại cho tài sản của khách và ngân hàng.
EGold được Tienphong Bank nghiên cứu một năm và ra đời trong bối cảnh các ngân hàng đã chuyển hoàn toàn sang nghiệp vụ mua bán vàng, thay vì vay mượn để kinh doanh như trước đây. 
Quyền sở hữu và mua bán vàng miếng tiếp tục được pháp luật thừa nhận, song đây cũng là mảng kinh doanh nhà nước không khuyến khích.
Ngân hàng Nhà nước hơn một năm qua đang từng bước thiết lập trật tự trên thị trường vàng, xóa bỏ hàng nghìn điểm kinh doanh tự phát, chỉ cấp phép cho 22 ngân hàng và 16 doanh nghiệp.
Cùng ngày, TienPhong Bank ra mắt dịch vụ eCounter, là một dạng tương tác mới với khách hàng, chưa từng có ở Việt Nam. Theo đó, ngay từ khi chủ thẻ của TienPhong Bank bước vào cửa, hệ thống điện tử đã nhận diện khách hàng là ai. Hệ thống xếp hàng thông minh tự động phân loại khách vào các bàn giao dịch phù hợp và không cần phải lấy số cũng như giảm tối đa thời gian chờ đợi. 
Một thành phần khác của hệ thống là các máy tự phục vụ, cho phép khách tự thực hiện các giao dịch như mua vàng, rút tiền, gửi tiền vào tài khoản mà không cần thông qua giao dịch viên. 
Chi phí để ngân hàng nâng cấp lên hệ thống eCounter này chỉ cao hơn 10% so với cách tiếp cận khách hàng truyền thống.  
Tổng giám đốc Tienphong Bank Nguyễn Hưng cho biết:
Chúng tôi đã tìm hiểu kỹ và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp lý, có quá trình chuẩn bị và xây dựng công phu cho sản phẩm này. 
Khi đưa ra thị trường, EGold đơn giản là một tiện ích mới cho khách hàng khi mua bán vàng vật chất, ứng dụng công nghệ để giúp họ rút ngắn thời gian hay quy trình so với giao dịch truyền thống.
Thứ nhất, eGold chỉ mở cơ chế giao dịch giữa khách hàng với TienPhong Bank, trong khi mô hình sàn giao dịch vàng là giao dịch giữa các nhà đầu tư với nhau, qua khớp lệnh. Các yêu cầu mua- bán vàng chỉ được xác định thông qua giá thực tại thời điểm giao dịch. 
Thứ hai, dịch vụ trên của TienPhong Bank là giao dịch vàng vật chất, khách hàng phải có đủ tiền trong tài khoản, thực hiện mua vàng và nhận vàng cụ thể (hoặc gửi tại ngân hàng qua dịch vụ giữ hộ); ngược lại chỉ bán khi có sẵn vàng đã gửi ở ngân hàng.  Điều này cũng khác với mô hình sàn giao dịch vàng là không cho sử dụng đòn bẩy tài chính. Sự phân biệt rõ hơn ở đây là giữa giao dịch vàng vật chất của eGold khác với giao dịch vàng tài khoản của các sàn vàng trước đây. 
Thứ ba, là ngân hàng thương mại, giao dịch mua - bán vàng qua eGold phải tuân thủ quy định về giới hạn trạng thái vàng của Ngân hàng Nhà nước, không được vượt quá 2% vốn tự có; không được cho vay vốn, không được cho vay vàng như các sàn vàng trước đây.
Nguồn
=> ngan-hang-dau-tien-mua-ban-vang-online SGN 
=> ngan-hang-dau-tien-mua-ban-vang-online VNE   
=> giai phap cong nghe Ecounter  
=>  eGold cua TienPhongBank
=> kênh đầu tư Vàng Tài Khoản
=> huong dan su dung Egold 
Hướng dẫn mở tài khoản kinh doanh vàng trực tuyến => mo-tai-khoan-kinh-doanh-vang-truc-tuyen
Tham khảo thêm